Mục lục:
Phần 1: Nguồn gốc sự sống và thuyết tiến hóa trong sinh học
Phần 2: Các hóa thạch
(Theo Tia Sáng, Nguyễn Tiến Vởn)
Đăng bởi VnExpress.net
http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2004/02/3b9cf888/ (Phần 1) http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2004/02/3b9cf8c2/ (Phần 2)
Phần 1
Nguồn gốc sự sống và thuyết tiến hóa trong sinh học
Theo thuyết tiến hóa của Darwin, sự sống
trên trái đất bắt đầu từ “sự không sống”. Nói cách khác, vật chất sống
(hữu cơ) được sinh ra từ sự tương tác ngẫu nhiên của vật chất vô cơ, là
loại vật chất không sống hay vô sinh. Thoạt đầu, trên trái đất chỉ toàn
chất vô cơ, không hề có mặt bất cứ vật chất hữu cơ nào, dù với cấu trúc
hóa học đơn giản nhất. Các chất vô cơ ngẫu nhiên kết hợp với nhau thành
những phức hợp hóa học ngày càng phức tạp, rồi đến một thời điểm (khoảng
3-4 tỷ năm trước) đại phân tử hữu cơ có chứa cả 4 nguyên tố, carbon,
hydro, oxy và nitơ – phân tử protein đầu tiên, ra đời. Với cấu trúc bậc 4
(cấu trúc không gian), chất protein có một khả năng đặc biệt mà chất vô
cơ không có được đó là trao đổi chất. Sự sống đầu tiên hình thành.
Với khả năng trao đổi chất, và sau hàng
tỷ năm tiến hóa, chất protein trải qua một quá trình tự tổ chức đã hình
thành một cơ thể hoàn chỉnh đầu tiên, gồm 1 tế bào sống, tương tự tế bào
vi khuẩn mà ta biết ngày nay. Hàng tỷ năm nữa trôi qua, các cơ thể đơn
bào phát triển thành đa bào, rồi cứ thế, cơ thể sống ngày càng trở nên
phức tạp tinh vi cho đến khi đạt được trình độ rất cao của quá trình
tiến hóa thì con người ra đời.
Từ lâu, học thuyết tiến hóa đã được coi
là một mẫu mực khoa học dùng để giải thích hiện tượng khách quan và phổ
biến đến mức mọi học sinh phổ thông trung học cũng hiểu được nó, chí ít ở
mức sơ lược nhất: sự sống bắt nguồn từ thế giới vô cơ.
Ngược với thuyết tiến hóa, các nhà khoa
học theo thuyết sáng tạo cho rằng không thể có một sự tiến hóa ở bậc vĩ
mô (tức toàn sự sống). Và tất nhiên không thể có chuyện sự sống bắt đầu
từ việc kết hợp ngẫu nhiên các nguyên tố trong thế giới vô cơ. Họ dựa
vào các lập luận sau:
Thứ nhất, khả năng thế giới vô cơ ngẫu
nhiên kết hợp với nhau để thành vật chất sống (protein) là không có,
cho dù các nhà theo thuyết tiến hóa lập luận “có thể được với cả tỷ năm
trời”.
Cứ ước tính (khá lỏng) rằng toàn bộ vũ trụ chứa 1080 nguyên tử, số tương tác giữa các nguyên tử trong một giây cho một nguyên tử là 1012 (một nghìn tỷ tương tác trong một giây) và tuổi của vũ trụ là 1018 giây
(tương đương 30 tỷ năm, trong khi đa số các nhà thiên văn học cho rằng
con số đó khoảng 15 tỷ năm). Vậy, tổng số các phản ứng có thể xảy ra kể
từ khi vũ trụ ra đời, trong toàn bộ khoảng không là 10110.
Bây giờ hãy bắt đầu với một cơ thể sống
đơn giản nhất, cơ thể đơn bào hay tế bào vi khuẩn. Một tế bào vi khuẩn
đơn giản nhất cũng cần tối thiểu khoảng 1.000 loại protein. Để đơn giản
hóa, cứ coi đã có sẵn 999 loại, chỉ cần một phân tử protein cuối cùng
nữa là ta có một tế bào sống. Mặc dù trong thiên nhiên có cả trăm loại
axit amin, là “viên gạch” có thể xây dựng “bức tường protein”, nhưng hãy
chỉ lấy 20 loại, là số lượng mà khoa học hiện tại đã đoan chắc tìm thấy
trong cơ thể sống. Cũng lại cho qua một thực tế là chỉ những axit amin
“đối xứng tay trái” mới có thể dùng được để xây bức tường sống. Và cũng
không tính đến một thực tế là, do các động thái hóa học rất đặc biệt, để
tạo ra một chuỗi polypeptid (một mẩu nhỏ của phân tử protein) ở môi
trường ngoài cơ thể sống là việc cực kỳ khó khăn. Bây giờ hãy tập trung
vào khả năng kết hợp ngẫu nhiên để có được một phân tử protein cuối cùng
gồm 200 axit amin, một số lượng rất khiêm tốn.
Các bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm
đã chứng tỏ rằng, để protein có được cấu trúc ba chiều (là điều kiện
tiên quyết để nó thực hiện chức năng sống), ít nhất một nửa trong tổng
số các điểm nối giữa các axit amin phải được xác định theo một trình tự
nhất định. Như vậy phân tử protein cuối cùng cần ít nhất 100 “điểm kết
nối xác định”. Tổ hợp các kết hợp giữa 20 axit amin với 100 điểm kết nối
xác định đạt đến con số 20100 hay 10130, các phản
ứng ngẫu nhiên. Chưa nói đến thời gian và số lượng phản ứng cần thiết
cho việc tạo ra các axit amin, thì tổng số các phản ứng ngẫu nhiên này
đã lớn hơn 100 tỷ tỷ (1020) lần tổng số các phản ứng có thể có giữa các nguyên tử trong toàn bộ vũ trụ, kể từ khi nó ra đời đến nay (10110).
Đấy mới chỉ là 1 trong số hàng nghìn protein cần thiết cho cơ thể sống ban đầu.
Thứ hai, còn hắc búa hơn nữa cho các nhà theo thuyết tiến hóa là cấu trúc ADN, được coi là phần tinh túy nhất của sự sống.
Bỏ qua chuyện tuổi vũ trụ có tương đương
với thời gian cần thiết tối thiểu để tạo ra ADN đầu tiên hay không (mà
chắc chắn theo bài toán xác suất trên, quả là không thể xảy ra được). Ta
tập trung vào một khía cạnh khác khi nói đến cấu trúc sống này. Mỗi một
chuỗi đơn ADN là một đại polymer gồm hơn 1 tỷ phân tử. Khoảng một phần
ba (333 triệu) trong số đó được chương trình hóa bằng 1 trong 4 bazơ
nitơ. Theo luật kết hợp ngẫu nhiên của thuyết tiến hóa, sẽ có khoảng 122
x 1032 cấu trúc ADN có thể có. Lại giả thuyết chỉ cứ 1 tỷ
cấu trúc như vậy mới có một là có khả năng tạo ra sự sống, số còn lại sẽ
là 122 x 1023. Giả thiết tiếp là tỷ lệ sống sót của ADN qua một tỷ năm tiến hóa chỉ là một phần tỷ, vậy hiện lúc này phải còn 122 x 1014, tức 12.200.000.000.000.000 ADN trong tự nhiên.
Có vấn đề gì với con số này? Vấn đề là ở
chỗ, theo logic của thuyết tiến hóa, mỗi loài cần có một cấu trúc ADN
riêng (vì thế loài này khác loài kia), vậy với 122 x 1014 dạng cấu trúc ADN còn tồn tại đến ngày nay, tổng số loài sinh vật hiện có cũng phải tương đương là 122 x 1014 .
Song theo ước tính của các nhà tiến hóa luận, tổng số loài trên trái
đất kể từ khi sự sống xuất hiện đến nay chỉ đạt con số khiêm tốn từ 2
đến 3 triệu loài, cả mấy tỷ lần nhỏ hơn số loài cần có. “Vậy – những
người ủng hộ thuyết sáng tạo đặt câu hỏi – ADN là sản phẩm của quá trình
kết hợp ngẫu nhiên các nguyên tố trong thiên nhiên hay do “Ai đó” sáng
tạo nên theo một thiết kế định sẵn?”.
Phần 2:
Các hóa thạch
Theo luật tiến hóa, giữa các loài phải có
rất nhiều dạng hình trung gian từng tồn tại, và vì thế phải có hóa
thạch của chúng. Nhưng tại sao không có một tầng địa chất nào chứa đầy
đủ các gạch nối trung gian này?…
Sau chuyện khó lý giải về khả năng
kết hợp ngẫu nhiên các vật chất vô cơ để thành vật chất sống và cấu trúc
ADN, chuyện đau đầu thứ ba cho các nhà tiến hóa luận là sự thiếu vắng
các hóa thạch sinh vật.
Các nhà tiến hóa luận cho rằng nhìn vào
sưu tập các mẫu hóa thạch, ta có thể hình dung ra con đường tiến hóa của
sinh giới, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Căn cứ vào những
đặc trưng cấu trúc tương tự, họ có thể phân loại các sinh vật hóa thạch
thành từng nhóm khác nhau, gọi là loài, và xếp từng loài vào vị trí
thích hợp trong cây tiến hóa. Vấn đề đặt ra là: theo luật tiến hóa giữa
các loài phải có rất nhiều dạng hình trung gian từng tồn tại, và vì thế
phải có hóa thạch của chúng. Ngay Darwin, trong cuốn Nguồn gốc các loài cũng phải thừa nhận điểm yếu nhất này trong học thuyết của ông. Ông viết trong phần mở đầu của chương 10: “…
Số lượng các dạng trung gian giữa các loài, là các dạng đã tồn tại một
cách chính thức, sẽ là rất lớn. Nhưng tại sao không có một kiến tạo hoặc
một giải tầng địa chất nào chứa đầy đủ các gạch nối trung gian này? Rõ
ràng là ngành địa lý đã không tìm ra được bất cứ một chuỗi hữu cơ biến
đổi từ từ nào, và đó có lẽ là một khách quan hiển nhiên và nghiêm trọng
nhất chống lại lý thuyết này“.
Nhưng ông cũng hy vọng “lời giải thích có
lẽ nằm trong sự thiếu hoàn hảo thái quá trong dữ liệu địa lý”. Tất
nhiên ông tin là khoa học địa lý thời sau có thể lấp lỗ hổng về sự hiện
hữu của các dạng sống trung gian giữa các loài. Oái oăm thay, gần 150
năm qua, hàng nghìn các nhà cổ sinh học khắp thế giới ra công đào bới,
tìm kiếm các mẫu hóa thạch này để mong lấp đầy khoảng trống đó, nhưng nó
vẫn nguyên vẹn như thời Darwin còn sống. David Kitts, từng thừa nhận
trên tạp chí Tiến hóa: “Mặc dù với sự hứa hẹn sáng sủa rằng Cổ sinh
học sẽ đem đến cho chúng ta một phương tiện để có thể nhìn thấy sự tiến
hóa, nhưng ngược lại nó đã đem đến cho các nhà tiến hóa luận những khó
khăn bề bộn hơn, bởi vì nó (ngành Cổ sinh học) càng làm hiện rõ hơn
“khoảng trống giữa các loài”. Thuyết tiến hóa cần những hóa thạch sinh
vật trung gian, nhưng Cổ sinh học lại không thể cung cấp được“. Càng
tìm kiếm, càng thấy nhiều hóa thạch các loài chứ không hề thấy hóa
thạch các sinh vật trung gian! Vậy có quá trình tiến hóa không, để từ
một loài này một (hoặc vài) loài mới xuất hiện?
Một điểm vênh khác giữa lý thuyết
tiến hóa và các bằng chứng ủng hộ nó là tính không chắc chắn của phương
pháp định tuổi bằng Carbon-14.
Trong tự nhiên, carbon phóng xạ được hình
thành bởi sự va đập của tia vũ trụ vào nguyên tử nitơ. Tỷ lệ giữa
carbon thông thường và carbon phóng xạ là 1 nghìn tỷ trên 1. Thực vật
hấp thu carbon phóng xạ từ không khí, đất, nước, rồi đến lượt động vật
ăn thực vật, cho nên trong cơ thể sinh vật tồn tại một lượng carbon
phóng xạ, có tỷ lệ tương đương trong tự nhiên. Khi sinh vật chết đi, quá
trình tan rã (để biến lại thành nitơ) của carbon phóng xạ bắt đầu. Bằng
các phương pháp khác nhau nếu xác định được lượng carbon phóng xạ trong
một mẫu hóa thạch, ta có thể suy ra tuổi của hóa thạch đó (hàm lượng tỷ
lệ nghịch với tuổi hóa thạch, nghĩa là thời điểm chết của sinh vật càng
xa hiện tại, lượng carbon phóng xạ còn lại càng ít).
Tuy nhiên, tại hội thảo quốc tế của những
người theo phái sáng tạo lần 5, tổ chức tại Pittsburgh, PA, Mỹ năm
2003, tiến sĩ Baumgardner đã trình bày một báo cáo thú vị về C14. Khi
tập hợp, phân tích kết quả hơn 20 năm nghiên cứu về carbon phóng xạ bằng
máy đo quang phổ gia tốc có độ nhạy cao của nhiều phòng thí nghiệm ở
nhiều nước khác nhau, ông nhận thấy các mẫu hữu cơ đại diện cho tất cả
các thời kỳ của kỷ Phanerozoic (khoảng 500 triệu năm trở lại đây) đều
chứa một lượng carbon phóng xạ có thể định lượng được và tập trung vào
khoảng từ 0,1 đến 0,5 pmc (phần trăm carbon hiện đại). Ông kết luận
ngay: các mẫu hóa thạch này không thể có tuổi lớn hơn 250.000 năm. Đó là
bởi trong 1 gam mẫu hóa thạch, từ chỗ có 6×1010 nguyên tử
C14, thì sau 250.000 năm, chỉ còn một phần vạn nguyên tử. Hàm lượng này
không thể xác định được bằng kỹ thuật hiện có. Vậy khi còn đo được C14,
tức là tuổi của mẫu vật phải nhỏ hơn 250.000 năm, không thể nào có cả
triệu năm tuổi như cách tính của học thuyết tiến hóa.
Giả thuyết nào có thể giải thích được vấn
đề carbon phóng xạ này. Tiến sĩ Baumgadner dựa vào nghiên cứu của chính
ông kết luận rằng một trận đại hồng thủy đã gần như xóa sạch mọi thứ
trước đó trên mặt đất. Những gì ta thấy qua các mẫu hóa thạch ngày nay
phần lớn đều xuất hiện sau trận đại hồng thủy ấy. Nếu có bằng chứng khoa
học xác đáng về một trận đại hồng thủy, vậy không thể không tin những
gì đã được ghi trong Kinh thánh.
About


0 nhận xét: