• Featured

    Windows 8 Could Have Nine Different Backgrounds and Editions

  • Featured

    Don't miss these 10 Things if you are going for Picnic.

  • Articles

    iPhone 6 Will Look Like

  • Articles

    Solar Powered UAVs To Replace Satellites

  • Thứ Hai, 25 tháng 4, 2016

    Chúng ta đang sống trong Mùa Tạ Ơn, nhắc nhở chúng ta về những ơn lành Thiên Chúa ban cho con người. Lễ Tạ Ơn có từ năm 1621, một năm sau khi những người Anh đầu tiên đặt chân trên đất Hoa Kỳ. Sau mùa gặt đầu tiên ở xứ lạ, những người nầy đã cùng nhau bày một bữa tiệc ăn mừng và tạ ơn Thiên Chúa.
    Người Mỹ có truyền thống ăn gà tây trong ngày Lễ Tạ Ơn vì trong bữa tiệc tạ ơn đầu tiên với người bản xứ, ngoài những thứ trồng trọt được trong mùa đầu tiên, họ ăn thịt bốn con gà tây săn được trong rừng. Món gà tây ngày nay nhắc lại bữa tiệc tạ ơn đầu tiên đó.
    Chúng ta có thể thích ăn thịt gà tây, có thể không thích, nhưng điều quan trọng trong mùa tạ ơn không phải là ăn uống, tiệc tùng hay vui chơi nhưng là lòng biết ơn. Những người di dân đầu tiên tại đây, với đức tin nơi Thiên Chúa, đã quy mọi ân phúc họ tiếp nhận cho Thiên Chúa. Họ ý thức rằng tất cả mọi điều họ có đều đến từ Thiên Chúa và họ phải tạ ơn Ngài.
    Người Việt chúng ta cũng là những người luôn luôn sống với lòng biết ơn. Trong dân gian, chúng ta truyền tụng cho nhau câu, "Ăn trái nhớ kẻ trồng cầy, uống nước nhớ người đào giếng." Chúng ta cũng nói, "Uống nước nhớ nguồn." Sâu kín trong tâm hồn, chúng ta không phải là những người vô ơn. Tuy nhiên, vì đời sống máy móc, bận rộn; vì những lo lắng trong cuộc sống; có khi vì mệt mỏi, chúng ta đã không còn thì giờ suy nghĩ đến ơn Trời.
    Trong Mùa Tạ Ơn nầy, tôi mời Bạn dành một vài phút ngắn ngủi tiếp theo đây, để chúng ta cùng nhau suy nghĩ đến ơn lành lớn lao Thiên Chúa đã ban cho chúng ta và bày tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa trong những hành động cụ thể và tích cực. Suy nghĩ đến bốn chữ ngắn ngủi trong câu tục ngữ, "Uống nước nhớ nguồn," tôi thấy những chữ nầy dạy chúng ta những bài học vô cùng quý giá trong tinh thần biết ơn.
    Trước hết nó cho ta thấy rằng chúng ta là những người thọ ơn Thiên Chúa. "Uống nước" là điều chúng ta làm mỗi ngày, nhưng hai chữ nầy bao gồm bao nhiêu ý nghĩa khác nữa. Có nhiều điều chúng ta thụ hưởng hay có trong tay mỗi ngày, quá quen thuộc và quá bình thường đến nỗi chúng ta coi thường và coi đó như điều tự nhiên xảy ra, không suy nghĩ đến nữa cho đến khi gặp những hoàn cảnh đặc biệt, chúng ta mới thấy đó là những điều vô cùng quý giá, không phải tầm thường. Uống nước là một trong những điều bình thường đó. Ngày nào ta lại không uống nước hễ khát thì uống, không uống nước máy thì nước lọc, nước ngọt, nước trà, v.v... Nhưng chắc Bạn đã có lần kinh nghiệm trong chuyến vượt biên, lúc bị tù đày, trong những ngày di tản, hay nghe lại từ kinh nghiệm của người khác về những giọt nước lạnh mà trong những giờ phút đó bao nhiêu ngọc ngà châu báu cũng không mua được. Chúng ta đã từng nghe những người chia nhau từng giọt nước trong nắp bình, hay những em bé nhờ một chút nước mà còn sống sót cho đến ngày nay.
        Uống nước bình thường thật và chúng ta dễ coi thường nhưng trong những hoàn cảnh đó nước là một cái gì phi thường và là ân huệ vô cùng lớn lao. Chúng ta dễ coi thường những gì chúng ta có nhiều và dễ có, như nước uống, thật ra chúng ta phải ý thức rằng những giọt nước chúng ta uống mỗi ngày đến từ Thiên Chúa như lời cầu nguyện trong dân gian: "Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống..." Ngày nay có lẽ ta phải bỏ tiền ra mua nước để uống cho tinh khiết, nhưng nguồn nước vẫn đến từ Thiên Chúa và Thiên Chúa không bao giờ bắt chúng ta phải trả tiền để uống nước cả! Chẳng những nước uống nhưng cơm ăn, áo mặc hằng ngày và mọi điều ta thụ hưởng đếu đến từ Thiên Chúa. Bài cầu nguyện dân gian không dừng lại ở chỗ "lấy nước tôi uống" nhưng tiếp tục xin Trời mưa để có ruộng mà cày, có cơm mà ăn, có rơm mà nấu. Ngày nay chúng ta không cần cày vẫn có cơm ăn, không cần rơm, chỉ cần bật nút lò để nấu. Nhưng Bạn có thấy sự hiện diện của Thiên Chúa đàng sau tất cả những điều đó không? Tôi muốn nói đến sức khỏe để có thể đi làm có tiền mua thức ăn, tôi muốn nói đến công ăn việc làm, dịp tiện, hệ thống trợ cấp, những người chung quanh chúng ta, những phương tiện giúp chúng ta có những gì chính chúng ta không thể tạo ra.
       Tất cả đều đến từ Thiên Chúa và chúng ta cần tạ ơn Ngài. Chúng ta đang sống trên đất nước giàu nhất thế giới và tất cả mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như cơ hội học hỏi, tiến thân đèu đến từ Thiên Chúa. Nước chúng ta uống hằng ngày không chỉ giới hạn chất lỏng chúng ta đưa vào miệng nhưng tất cả mọi điều trong phạm vi vật chất Thiên Chúa đã cung ứng cho con người để sống mà trên hết là chính thân thể diệu kỳ của chúng ta.
       Chúng ta vừa nói hai chữ "uống nước" nghe rất đơn giản nhưng Bạn có biết rằng chúng ta uống được hay nuốt được cũng là ơn Thiên Chúa ban cho chúng ta không? Chúng ta đã từng thấy những người mắc chứng ung thư cuống họng, không nuốt được, cũng có những người vì tai biến mạch máu não hay những thứ bệnh khác đã không thể điều khiển được cuống họng của mình, không nuốt được. Một cử động rất đơn giản trong bộ máy diệu kỳ Thiên Chúa đã tạo dựng, không có hay có gì sai trật trong bộ máy đó thì uống cũng không được. Từ đó ta thấy chẳng những ăn hay uống nhưng cả con người nầy, nếu không có sức khỏe thì làm sao để ăn, để uống, để hoạt động, để làm việc, để di chuyển. Chúng ta đã từng thấy những người thật khỏe mạnh mắc chứng nan y, nằm xuống một chỗ và đời sống không còn gì nữa. Người đó có thể chính là chúng ta, đang hoạch định nhiều điều cho tương lai, cho tuần lễ tới hay cho chính ngày hôm nay, nhưng một cơn bệnh đến nằm xuống và dù có muốn gì đi nữa, đã nằm trên giường bệnh là phải nằm vậy thôi!

       Uống nước, hai chữ thật đơn giản nhưng cho ta thấy bao nhiêu ơn lành của Thiên Chúa. Ơn ban cho nước để chúng ta uống và ơn ban cho ta sức khoẻ để có thể uống. Nói rộng ra, đời sống mà ta có và những gì ta đang thụ hưởng đều đến từ Thiên Chúa. Ngày hôm nay hay bất cứ lúc nào uống nước Bạn hãy suy nghĩ đến những gì tôi vừa nói và cả tạ Thiên Chúa đã ban cho ta nước để uống và một thân thể có khả năng để uống nước đó!
    Trong bốn chữ "Uống nước nhớ nguồn" uống là một hành động, một cái gì ta thụ hưởng, còn "nhớ" nói đến một thái độ, một tấm lòng biết ơn. Những chữ "Uống nước nhớ nguồn" có thể hiểu theo hai cách:

       1. Đây có thể là lời khuyên, khi nào uống nước thì phải nhớ nguồn. Đây là lời nhắc nhở chúng ta đừng quên ơn của Thiên Chúa.
       2. Nhưng câu, "Uống nước nhớ nguồn" cũng là lời của ta tự nhủ mình rằng: uống những giọt nước nầy tôi không thể quên từ đâu tôi có nước để uống. Tạ tự nhủ: vì tôi uống nước nên tôi phải nhớ nguồn.
    Tôi không biết Bạn hiểu câu nầy như thế nào, nhưng dù hiểu theo nghĩa nào đi nữa, tự nhủ hay được nhắc nhở, mỗi chúng ta dù là ai, đều phải nhớ nguồn. "Nhớ" không có nghĩa là chợt nhớ hay nhớ nhung. Nhưng "nhớ" nghĩa không quên ơn, là biết ơn, là cảm nhận ân phúc của Thiên Chúa. Bạn và tôi, dù chúng ta là ai, được sinh ra trên cõi đời nầy, chúng ta đều mang ơn Thiên Chúa. Cha mẹ sinh ta ra nhưng chính Thiên Chúa là Đấng ban cho chúng ta sự sống. Chẳng phải đợi khi uống nước mới nhớ nguồn, nhưng hiện diện trên cõi đời nầy, trong thân xác nầy là chúng ta đã phải nghĩ đến nguồn cội của mình và chẳng những để nhớ ơn, chúng ta cũng phải tôn thờ Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng và cứu rỗi. Tôi nói tạo dựng và cứu rỗi vì tất cả loài người đều do Thiên Chúa tạo dựng cho nên tất cả chúng ta đều mang ơn Thiên Chúa về sự sống. Tuy nhiên không phải tất cả loài người đều tôn thờ Thiên Chúa là nguồn sống của mình. Con người chúng ta được Thiên Chúa ban cho ý chí tự do và chúng ta có thể nhớ nguồn hay không nhớ nguồn.
    Vì quên nguồn, vì xa lìa Thiên Chúa, con người chúng ta đã tự chọn cho mình con đường riêng và đó là con đường tội lỗi, xa cách Chúa. Dầu vậy Thiên Chúa vẫn yêu chúng ta, vẫn đi tìm chúng ta và kêu chúng ta trở lại với Ngài. Thiên Chúa thánh khiết không thể dung dưỡng tội lỗi vì vậy để có thể đem chúng ta trở lại, phải có một người chịu phạt thế cho chúng ta. Đó là Chúa Cứu Thế Giê-xu, Ngài chính là Thiên Chúa trong thân xác con người. Chúa Giê-xu đã giáng trần 2,000 năm trước, đứng ở chỗ lẽ ra chúng ta phải đứng, đó là chỗ đứng của tội nhân. Chúa Giê-xu đã đổ máu của Ngài ra trên thập giá để chuộc tội cho chúng ta và đó là ơn cứu rỗi Thiên Chúa dành cho chúng ta.
    Thiên Chúa chẳng những đã tạo dựng chúng ta, ban cho chúng ta sự sống thân xác, Ngài cũng đã cứu rỗi chúng ta, ban cho chúng ta sự sống tâm linh. Chúng ta cần biết ơn Chúa, chẳng những biết ơn về phương diện thân xác nhưng cũng biết ơn trên phương diện tâm linh. Đó là chẳng những nói được rằng, "Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống" nhưng cũng nói được rằng, "Lạy Chúa Giê-xu là Đấng đã chịu chết thay cho con, con xin tiếp nhận ơn cứu rỗi của Chúa."
    Bạn sẽ làm gì trong Mùa Tạ Ơn nầy, tôi không biết. Dù Bạn có ăn lễ tạ ơn hay không, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng nhất là mùa tạ ơn nhắc chúng ta về lòng biết ơn. Lòng biết ơn đối với Thiên Chúa là Đấng tạo dựng và cứu rỗi chúng ta. Nếu chúng ta uống nước và biết nhớ nguồn thì hôm nay, với đời sống, với hơi thở chúng ta đang có, chúng ta cần tôn thờ Thiên Chúa qua con đường cứu rỗi Chúa Giê-xu đã mở ra cho chúng ta qua cái chết của Ngài. Đó chính là lòng biết ơn thật sự và Mùa Tạ Ơn nầy sẽ ngập tràn ý nghĩa đối với Bạn và gia đình.
    MS Nguyễn Th

    Uống Nước Nhớ Nguồn

    Posted at  04:04:00  |  in  Ý Nghĩa Cuộc Sống  |  Read More»

    Chúng ta đang sống trong Mùa Tạ Ơn, nhắc nhở chúng ta về những ơn lành Thiên Chúa ban cho con người. Lễ Tạ Ơn có từ năm 1621, một năm sau khi những người Anh đầu tiên đặt chân trên đất Hoa Kỳ. Sau mùa gặt đầu tiên ở xứ lạ, những người nầy đã cùng nhau bày một bữa tiệc ăn mừng và tạ ơn Thiên Chúa.
    Người Mỹ có truyền thống ăn gà tây trong ngày Lễ Tạ Ơn vì trong bữa tiệc tạ ơn đầu tiên với người bản xứ, ngoài những thứ trồng trọt được trong mùa đầu tiên, họ ăn thịt bốn con gà tây săn được trong rừng. Món gà tây ngày nay nhắc lại bữa tiệc tạ ơn đầu tiên đó.
    Chúng ta có thể thích ăn thịt gà tây, có thể không thích, nhưng điều quan trọng trong mùa tạ ơn không phải là ăn uống, tiệc tùng hay vui chơi nhưng là lòng biết ơn. Những người di dân đầu tiên tại đây, với đức tin nơi Thiên Chúa, đã quy mọi ân phúc họ tiếp nhận cho Thiên Chúa. Họ ý thức rằng tất cả mọi điều họ có đều đến từ Thiên Chúa và họ phải tạ ơn Ngài.
    Người Việt chúng ta cũng là những người luôn luôn sống với lòng biết ơn. Trong dân gian, chúng ta truyền tụng cho nhau câu, "Ăn trái nhớ kẻ trồng cầy, uống nước nhớ người đào giếng." Chúng ta cũng nói, "Uống nước nhớ nguồn." Sâu kín trong tâm hồn, chúng ta không phải là những người vô ơn. Tuy nhiên, vì đời sống máy móc, bận rộn; vì những lo lắng trong cuộc sống; có khi vì mệt mỏi, chúng ta đã không còn thì giờ suy nghĩ đến ơn Trời.
    Trong Mùa Tạ Ơn nầy, tôi mời Bạn dành một vài phút ngắn ngủi tiếp theo đây, để chúng ta cùng nhau suy nghĩ đến ơn lành lớn lao Thiên Chúa đã ban cho chúng ta và bày tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa trong những hành động cụ thể và tích cực. Suy nghĩ đến bốn chữ ngắn ngủi trong câu tục ngữ, "Uống nước nhớ nguồn," tôi thấy những chữ nầy dạy chúng ta những bài học vô cùng quý giá trong tinh thần biết ơn.
    Trước hết nó cho ta thấy rằng chúng ta là những người thọ ơn Thiên Chúa. "Uống nước" là điều chúng ta làm mỗi ngày, nhưng hai chữ nầy bao gồm bao nhiêu ý nghĩa khác nữa. Có nhiều điều chúng ta thụ hưởng hay có trong tay mỗi ngày, quá quen thuộc và quá bình thường đến nỗi chúng ta coi thường và coi đó như điều tự nhiên xảy ra, không suy nghĩ đến nữa cho đến khi gặp những hoàn cảnh đặc biệt, chúng ta mới thấy đó là những điều vô cùng quý giá, không phải tầm thường. Uống nước là một trong những điều bình thường đó. Ngày nào ta lại không uống nước hễ khát thì uống, không uống nước máy thì nước lọc, nước ngọt, nước trà, v.v... Nhưng chắc Bạn đã có lần kinh nghiệm trong chuyến vượt biên, lúc bị tù đày, trong những ngày di tản, hay nghe lại từ kinh nghiệm của người khác về những giọt nước lạnh mà trong những giờ phút đó bao nhiêu ngọc ngà châu báu cũng không mua được. Chúng ta đã từng nghe những người chia nhau từng giọt nước trong nắp bình, hay những em bé nhờ một chút nước mà còn sống sót cho đến ngày nay.
        Uống nước bình thường thật và chúng ta dễ coi thường nhưng trong những hoàn cảnh đó nước là một cái gì phi thường và là ân huệ vô cùng lớn lao. Chúng ta dễ coi thường những gì chúng ta có nhiều và dễ có, như nước uống, thật ra chúng ta phải ý thức rằng những giọt nước chúng ta uống mỗi ngày đến từ Thiên Chúa như lời cầu nguyện trong dân gian: "Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống..." Ngày nay có lẽ ta phải bỏ tiền ra mua nước để uống cho tinh khiết, nhưng nguồn nước vẫn đến từ Thiên Chúa và Thiên Chúa không bao giờ bắt chúng ta phải trả tiền để uống nước cả! Chẳng những nước uống nhưng cơm ăn, áo mặc hằng ngày và mọi điều ta thụ hưởng đếu đến từ Thiên Chúa. Bài cầu nguyện dân gian không dừng lại ở chỗ "lấy nước tôi uống" nhưng tiếp tục xin Trời mưa để có ruộng mà cày, có cơm mà ăn, có rơm mà nấu. Ngày nay chúng ta không cần cày vẫn có cơm ăn, không cần rơm, chỉ cần bật nút lò để nấu. Nhưng Bạn có thấy sự hiện diện của Thiên Chúa đàng sau tất cả những điều đó không? Tôi muốn nói đến sức khỏe để có thể đi làm có tiền mua thức ăn, tôi muốn nói đến công ăn việc làm, dịp tiện, hệ thống trợ cấp, những người chung quanh chúng ta, những phương tiện giúp chúng ta có những gì chính chúng ta không thể tạo ra.
       Tất cả đều đến từ Thiên Chúa và chúng ta cần tạ ơn Ngài. Chúng ta đang sống trên đất nước giàu nhất thế giới và tất cả mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như cơ hội học hỏi, tiến thân đèu đến từ Thiên Chúa. Nước chúng ta uống hằng ngày không chỉ giới hạn chất lỏng chúng ta đưa vào miệng nhưng tất cả mọi điều trong phạm vi vật chất Thiên Chúa đã cung ứng cho con người để sống mà trên hết là chính thân thể diệu kỳ của chúng ta.
       Chúng ta vừa nói hai chữ "uống nước" nghe rất đơn giản nhưng Bạn có biết rằng chúng ta uống được hay nuốt được cũng là ơn Thiên Chúa ban cho chúng ta không? Chúng ta đã từng thấy những người mắc chứng ung thư cuống họng, không nuốt được, cũng có những người vì tai biến mạch máu não hay những thứ bệnh khác đã không thể điều khiển được cuống họng của mình, không nuốt được. Một cử động rất đơn giản trong bộ máy diệu kỳ Thiên Chúa đã tạo dựng, không có hay có gì sai trật trong bộ máy đó thì uống cũng không được. Từ đó ta thấy chẳng những ăn hay uống nhưng cả con người nầy, nếu không có sức khỏe thì làm sao để ăn, để uống, để hoạt động, để làm việc, để di chuyển. Chúng ta đã từng thấy những người thật khỏe mạnh mắc chứng nan y, nằm xuống một chỗ và đời sống không còn gì nữa. Người đó có thể chính là chúng ta, đang hoạch định nhiều điều cho tương lai, cho tuần lễ tới hay cho chính ngày hôm nay, nhưng một cơn bệnh đến nằm xuống và dù có muốn gì đi nữa, đã nằm trên giường bệnh là phải nằm vậy thôi!

       Uống nước, hai chữ thật đơn giản nhưng cho ta thấy bao nhiêu ơn lành của Thiên Chúa. Ơn ban cho nước để chúng ta uống và ơn ban cho ta sức khoẻ để có thể uống. Nói rộng ra, đời sống mà ta có và những gì ta đang thụ hưởng đều đến từ Thiên Chúa. Ngày hôm nay hay bất cứ lúc nào uống nước Bạn hãy suy nghĩ đến những gì tôi vừa nói và cả tạ Thiên Chúa đã ban cho ta nước để uống và một thân thể có khả năng để uống nước đó!
    Trong bốn chữ "Uống nước nhớ nguồn" uống là một hành động, một cái gì ta thụ hưởng, còn "nhớ" nói đến một thái độ, một tấm lòng biết ơn. Những chữ "Uống nước nhớ nguồn" có thể hiểu theo hai cách:

       1. Đây có thể là lời khuyên, khi nào uống nước thì phải nhớ nguồn. Đây là lời nhắc nhở chúng ta đừng quên ơn của Thiên Chúa.
       2. Nhưng câu, "Uống nước nhớ nguồn" cũng là lời của ta tự nhủ mình rằng: uống những giọt nước nầy tôi không thể quên từ đâu tôi có nước để uống. Tạ tự nhủ: vì tôi uống nước nên tôi phải nhớ nguồn.
    Tôi không biết Bạn hiểu câu nầy như thế nào, nhưng dù hiểu theo nghĩa nào đi nữa, tự nhủ hay được nhắc nhở, mỗi chúng ta dù là ai, đều phải nhớ nguồn. "Nhớ" không có nghĩa là chợt nhớ hay nhớ nhung. Nhưng "nhớ" nghĩa không quên ơn, là biết ơn, là cảm nhận ân phúc của Thiên Chúa. Bạn và tôi, dù chúng ta là ai, được sinh ra trên cõi đời nầy, chúng ta đều mang ơn Thiên Chúa. Cha mẹ sinh ta ra nhưng chính Thiên Chúa là Đấng ban cho chúng ta sự sống. Chẳng phải đợi khi uống nước mới nhớ nguồn, nhưng hiện diện trên cõi đời nầy, trong thân xác nầy là chúng ta đã phải nghĩ đến nguồn cội của mình và chẳng những để nhớ ơn, chúng ta cũng phải tôn thờ Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng và cứu rỗi. Tôi nói tạo dựng và cứu rỗi vì tất cả loài người đều do Thiên Chúa tạo dựng cho nên tất cả chúng ta đều mang ơn Thiên Chúa về sự sống. Tuy nhiên không phải tất cả loài người đều tôn thờ Thiên Chúa là nguồn sống của mình. Con người chúng ta được Thiên Chúa ban cho ý chí tự do và chúng ta có thể nhớ nguồn hay không nhớ nguồn.
    Vì quên nguồn, vì xa lìa Thiên Chúa, con người chúng ta đã tự chọn cho mình con đường riêng và đó là con đường tội lỗi, xa cách Chúa. Dầu vậy Thiên Chúa vẫn yêu chúng ta, vẫn đi tìm chúng ta và kêu chúng ta trở lại với Ngài. Thiên Chúa thánh khiết không thể dung dưỡng tội lỗi vì vậy để có thể đem chúng ta trở lại, phải có một người chịu phạt thế cho chúng ta. Đó là Chúa Cứu Thế Giê-xu, Ngài chính là Thiên Chúa trong thân xác con người. Chúa Giê-xu đã giáng trần 2,000 năm trước, đứng ở chỗ lẽ ra chúng ta phải đứng, đó là chỗ đứng của tội nhân. Chúa Giê-xu đã đổ máu của Ngài ra trên thập giá để chuộc tội cho chúng ta và đó là ơn cứu rỗi Thiên Chúa dành cho chúng ta.
    Thiên Chúa chẳng những đã tạo dựng chúng ta, ban cho chúng ta sự sống thân xác, Ngài cũng đã cứu rỗi chúng ta, ban cho chúng ta sự sống tâm linh. Chúng ta cần biết ơn Chúa, chẳng những biết ơn về phương diện thân xác nhưng cũng biết ơn trên phương diện tâm linh. Đó là chẳng những nói được rằng, "Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống" nhưng cũng nói được rằng, "Lạy Chúa Giê-xu là Đấng đã chịu chết thay cho con, con xin tiếp nhận ơn cứu rỗi của Chúa."
    Bạn sẽ làm gì trong Mùa Tạ Ơn nầy, tôi không biết. Dù Bạn có ăn lễ tạ ơn hay không, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng nhất là mùa tạ ơn nhắc chúng ta về lòng biết ơn. Lòng biết ơn đối với Thiên Chúa là Đấng tạo dựng và cứu rỗi chúng ta. Nếu chúng ta uống nước và biết nhớ nguồn thì hôm nay, với đời sống, với hơi thở chúng ta đang có, chúng ta cần tôn thờ Thiên Chúa qua con đường cứu rỗi Chúa Giê-xu đã mở ra cho chúng ta qua cái chết của Ngài. Đó chính là lòng biết ơn thật sự và Mùa Tạ Ơn nầy sẽ ngập tràn ý nghĩa đối với Bạn và gia đình.
    MS Nguyễn Th

    0 nhận xét:

    Kết quả hình ảnh cho tiến hoá
    Hỏi: Thuyết tiến hóa là gì?
    Đáp: Thuyết tiến hóa có nghĩa là tiến trình thay đổi trải qua một thời gian dài.
    Tuy nhiên theo cách thông thường nhất từ tiến hóa được dùng để ám chỉ đến sự hình thành và phát triển sự sống trên trái đất. 
    Ý tưởng cho rằng tất cả các sinh vật sống được tiến hóa từ những sinh vật đơn giản và phát triển thành thành mọi loài khác chúng ta thấy trên trái đất ngày hôm nay được gọi là thuyết tiến hóa. Qui trình cho lý thuyết này được xúc tiến phải trải qua nhiều thời đại. Từ tiến hóa đứng một mình đôi khi cũng được dùng để đề cập đến thuyết tiến hóa.
    Hỏi: Cái được gọi là thuyết tiến hóa có nghĩa gì? Điều gì được gọi là một lý thuyết?
    Đáp: Định nghĩa đơn giản nhất của lý thuyết là một ý tưởng chưa được chứng minh nhưng nó có ý định giải thích một số điều. Ví dụ, tất cả chúng ta đều nhìn thấy ánh sáng, tuy nhiên từ trước tới nay đã có ai giải thích một cách chính xác ánh sáng là gì? Trong suốt nhiều năm đã có nhiều lý thuyết khác nhau giải thích ánh sáng, nhưng các lý thuyết trước đây bị vứt bỏ khi có một lý thuyết mới hơn phát triển. Một lý thuyết có vẻ dường như hợp lý có thể được chấp nhận một cách rộng rãi. Dù cho nó được hỗ trợ qua các bằng chứng, thì nó cũng không đủ để nói lên một sự thật. Lý thuyết chỉ có thể giải thích nhưng không thể chứng minh nó. Một minh họa cho điều này có thể được tìm thấy trong kiến thức của chúng ta là hệ mặt trời. Trải qua nhiều thế kỷ, mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao được người ta tin rằng chúng nó xoay quanh trái đất. Vào những năm đó lý thuyết này có vẻ hợp lý. Nó được đông đảo mọi người chấp nhận và được dạy ở các trường học như là một sự thật hiển nhiên. Ngày nay chúng ta biết rằng lý thuyết đó mà một thời đã được người ta chấp nhận không còn đúng nữa. Chỉ định nghĩa một lý thuyết thì không thể chứng minh nó là một sự thật.
    Hỏi: Bạn đang nói rằng thuyết tiến hóa không thể chứng minh?
    Đáp: Vâng, cũng có thể nói rằng nó sẽ không được gọi là một học thuyết. Bởi vì nó không thể chứng minh, và cũng không có ai ở đó để quan sát nó xảy ra và cũng không có bất kỳ một thực nghiệm nào được làm để biểu hiện nó ra.
    Hỏi: Có thể chọn những cách giải thích khác cho sự hình thành và phát triển của sự sống?
    Đáp: Vâng, cách giải thích khác đó là Kinh Thánh. Bản thân nó tự công bố đó là Lời Đức Chúa Trời. Nó cho chúng ta biết vũ trụ và sự sống được hình thành qua sự sáng tạo đặc biệt của Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa rằng Đức Chúa Trời là Đấng đời đời và đầy quyền năng. Toàn thể vũ trụ được hình thành và tồn tại đó là bởi hành động của ý muốn Ngài.       
    Hỏi: Có phải sự sáng tạo cũng chỉ là một lý thuyết?
    Đáp: Sự sáng tạo cũng có thể được gọi là một học thuyết giống như những tiêu chí đánh giá dành cho thuyết tiến hóa. Nó giải thích một số điều, tuy nhiên nó không thể được chứng minh một cách khoa học. Không có thí nghiệm nào được làm từ con người để chứng minh sự sáng tạo. Không ai có ở đó để quan sát khi sự sáng tạo xảy ra, ngoại trừ Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo, cũng là Đấng phán bảo với chúng ta qua Kinh Thánh sự sáng tạo đã xảy ra như thế nào. Điều này tùy thuộc vào chúng ta tin hay không tin những gì Đấng Tạo Hóa đã phán. Đây là vấn đề của đức tin.
    Hỏi: Đức tin có nghĩa gì?
    Đáp: Đức tin là tin vào một số điều mà chúng ta không thấy hay kinh nghiệm, hoặc là không có bằng chứng. Khi có bằng chứng thì đức tin cũng không cần thiết. Ví dụ chúng ta có đức tin mặt trời mọc vào buổi sáng. Chúng ta không biết điều này có phải là sự thật hay không, nhưng chúng ta tin nó. Tuy nhiên chúng ta không cần có đức tin để tin rằng mặt trời có xuất hiện ngày hôm qua. Những gì đã xảy ra ngày hôm qua là một sự thật. Tất cả chúng ta có mặt ở đó và chúng ta biết nó xảy ra. Chúng ta đã quan sát nó.
    Hỏi: Cần có đức tin để tin vào thuyết tiến hóa?
    Đáp: Vâng, đức tin là tin vào một số điều mà không thể chứng minh. Khi chúng ta nói về chủ đề này thì ngôn ngữ chính chúng ta dùng để bày tỏ nó chính là vấn đề của đức tin. Chúng ta có thể nói: “Tôi tin vào thuyết tiến hóa” hoặc “tôi tin vào sự sáng tạo”. 
    Hỏi: Tất cả các khoa học gia không tin vào thuyết tiến hóa?
    Đáp: Không phải. Có nhiều khoa học gia tin vào sự sáng tạo của Đức Chúa Trời, không tin vào thuyết tiến hóa.
    Hỏi: Không có bằng chứng của thuyết tiến hóa? Khoa học không chứng minh được những bằng chứng của thuyết tiến hóa là sự thật?
    Đáp: Không cần thiết. Các khoa học gia mà tin vào sự sáng tạo cũng nhìn vào những bằng chứng tương tự như những người tin vào thuyết tiến hóa, nhưng họ đi đến những kết luận khác nhau. Mỗi nhóm đánh giá các bằng chứng tương tự nhưng giải thích các bằng chứng đó khác nhau. Cũng có những khoa học gia nhiệt thành đứng về phía những người theo thuyết tiến hóa thừa nhận rằng thuyết tiến hóa là vấn đề của đức tin mà chính họ đã chọn lựa. Vì thế họ nhận biết thực sự nó là đức tin. Câu trích dẫn sau đây là một ví dụ: Thuyết tiến hóa chưa chứng minh được và không thể chứng minh. Chúng ta tin nó bởi vì chúng ta chỉ có một trong hai sự lựa chọn. Mà thuyết sáng tạo là điều không thể nghĩ ra được” (Arthur Keiyth).
    Hỏi: Vấn đề ở đây là: Tôi tin cái gì?
    Đáp: Hoàn toàn đúng, bởi vì niềm tin của chúng ta xác định hành động của chúng ta. Trải qua hàng thế kỷ trong quá khứ người ta tin trái đất phẳng. Niềm tin này ảnh hưởng đến hành động của họ. Họ sợ phải đi thuyền buồm ra khơi xa khuất tầm nhìn với đất liền. Cũng vậy, niềm tin phổ quát của chúng ta vẫn còn thuộc về ngày mai. Nếu bạn bị thuyết phục và tin một điều gì đó, rồi một ngày nào đó trong tương lai bạn khám phá một sự thật không giống với những gì bạn tin. Và ngày đó lại là ngày cuối cùng bạn sống trên đất này thì câu chuyện của bạn sẽ ra sao? Bạn có muốn sống ngày hôm nay khác biệt hơn những ngày khác trong quá khứ hay không?
    Hỏi: Những tổn hại nào sẽ đến khi tin vào thuyết tiến hóa?
    Đáp: Thuyết tiến hóa làm cho Đức Chúa Trời trở nên không cần thiết. Nó tạo nên một xã hội mà ở đó người ta vứt bỏ ý niệm là có một Đức Chúa Trời. Khi chúng ta bỏ qua ý niệm về Đấng tối cao, chúng ta cũng bỏ qua uy quyền đạo đức cao nhất. Nếu không có một Đức Chúa Trời dạy bảo con người về những điều đúng và sai, khi đó con người được tự do trong những quyết định cá nhân. Xuyên suốt chiều dài lịch sử của con người, chúng ta thấy hậu quả đau đớn khi con người sống và làm theo những tiêu chuẩn   bản ngã trung tâm của họ.
    Hỏi: Có phải cơ đốc nhân tin cả hai: Kinh Thánh và thuyết tiến hóa?
    Đáp: Cơ đốc nhân chỉ tin vào Lời của Đức chúa Trời.
    Hỏi: Có lẽ Đức Chúa Trời dùng thuyết tiến hóa như là phương pháp sáng tạo của Ngài. Nếu Ngài là Đấng có đầy quyền năng như Kinh Thánh đã công bố, Ngài không thể làm nên mọi vật bằng phương tiện của thuyết tiến hóa hay sao?
    Đáp: Đức Chúa Trời có thể sử dụng bất kỳ phương pháp nào Ngài chọn lựa. Nhưng vấn đề ở đây là: Phương pháp nào Đức Chúa Trời bảo rằng Ngài sẽ sử dụng? Hai chương đầu tiên của Kinh Thánh đưa ra câu trả lời này.
    Hỏi: Một số cơ đốc nhân nói rằng Đức Chúa Trời đã không giải thích thuyết tiến hóa, bởi vì con người của những thời đại trước không thể hiểu nó. Và đó là lý do tại sao hai chương đầu của sách Sáng thế ký nói lên những gì Đức Chúa Trời làm. Điều đó như thế nào?
    Đáp: Nếu chúng ta chấp nhận phạm vi của sự tranh luận, chúng ta đang nói lên điều cốt yếu, đó là Đức Chúa Trời đã không nói cho chúng ta biết sự thật. Tuy nhiên Kinh Thánh không chỉ bày tỏ Đức Chúa Trời yêu mến sự thật, nhưng Ngài thực sự là lẽ thật (Giăng 14:6). Kinh Thánh cũng nói rằng Đức Chúa Trời không thể nói dối! (Tít 1:2). Ngài không thể nói dối bởi vì chính Ngài là lẽ thật. Một trong mười điều răn đó là: “Ngươi chớ làm chứng dối” (Xuất Ê-díp-tô-ký 20:16). Có hợp lý không khi Đức Chúa Trời đưa cho chúng ta một tiêu chuẩn đạo đức cao hơn chính Ngài?
    Hỏi: Chính Kinh Thánh cũng nói ở một chỗ nào đó rằng một ngày và một ngàn năm là tương tự đối với Đức Chúa Trời. Như vậy có phải nó mang thuyết tiến hóa và sách Sáng thế ký lại với nhau?
    Đáp: Không phải như vậy. Câu đó được tìm thấy trong 2 Phi-e-rơ 3:8, “Nhưng đừng quên điều này, anh chị em yêu dấu: Đối với Chúa một ngày như ngàn năm và ngàn năm như một ngày”.   Câu này không nói với chúng ta   rằng một ngày và một ngàn năm là tương tự. Nhưng nó bày tỏ rằng Đức Chúa Trời không kinh nghiệm thời gian giống như con người. Tuy nhiên nếu Đức Chúa Trời đã dùng sáu ngàn năm để sáng tạo, hoặc sáu tỉ năm hay là sáu trăm tỉ năm thì tại sao Ngài không đơn giản nói điều đó cho chúng ta biết? Thay vì vậy Kinh Thánh ký thuật lại Đức Chúa Trời đã sáng tạo nên vạn vật trong sáu ngày, và nhấn mạnh điều này trong các câu sau: “…vậy có buổi chiều và buổi mai, ấy là ngày thứ nhất (hay ngày thứ 2, thứ 3, thứ 4, vân vân) (Sáng hế ký 1:5, 8,13,19, 23, 31).  
    Một lời chứng cá nhân
    Mặc dù tôi tin vào sự sáng tạo của Đức Chúa Trời, thì trước đây đã một lần tôi nhiệt thành tin vào thuyết tiến hóa. Tôi tin thuyết tiến hóa vì một lý do chung mà hầu hết mọi người đều tin. Đó là vì tôi đã từng nghe về nó và được dạy dỗ như vậy. Trong xã hội chúng ta có một sự thúc ép to lớn và bị kể là không thông minh khi tin vào sự sáng tạo theo Kinh Thánh. Đó là một thành kiến mang tính chống đối Kinh Thánh. Trong cộng đồng các khoa học gia và những người tri thức thường có khuynh hướng chống lại các bạn đồng sự là những người chọn lựa tin vào sự sáng tạo.
    Tôi đã đi đến một chỗ trong đời sống, tại đó tôi buộc phải xem xét lại những vấn đề này. Trong khi tìm kiếm Đức Chúa Trời cách cá nhân, tôi đi đến nhận thức rằng nếu tiếp tục tin vào thuyết tiến hóa sẽ làm xói mòn niềm tin vào Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời. Thuyết tiến hóa và sự sáng tạo theo Kinh Thánh xung khắc với nhau. Một trong hai cái này phải được sửa đổi lại. Đây không phải là vấn đề cho sự tham khảo cá nhân. Thôi muốn biết chính LẼ THẬT. Sau một thời gian ngắn cầu nguyện và tìm kiếm lẽ thật và bất cứ cái gì có thể là lẽ thật, tôi nhận ra rằng tất cả các cấu trúc phức tạp của thuyết tiến hóa trong tâm trí tôi đã bị rửa sạch giống như cát trôi đi trong một trận lụt. Tôi cảm thấy được giải phóng. Ngày xưa tôi giống như một đứa trẻ được cho ăn bằng thìa. Rõ ràng là những gì tôi học ở nhà trường về thuyết tiến hóa không có một chút nào lẽ thật.
    Tôi mời bạn hãy suy nghĩ về Kinh Thánh và Đức Chúa Trời của Kinh Thánh. Kinh Thánh không được viết ra để dạy khoa học, nhưng điều này không có nghĩa là khoa học không đúng. Khoa học cung cấp nhiều hơn những thông tin của lịch sử. Còn Kinh Thánh cung ứng những câu trả lời cho những vấn đề của đời sống. Nó cho chúng ta biết sự sống trên trái đất bắt đầu như thế nào, và bằng cách nào sự sống đó sẽ kết thúc. Nó không chỉ quan sát những bất hạnh, khổ đau, sự chết liên quan đến đời sống con người mà nó còn giải thích tại sao những điều này xảy ra. Và nó cung ứng thuốc giải độc, biện pháp cứu chữa những nan đề cho những ai chọn lựa nó.
    Kinh Thánh không chỉ giới thiệu cho chúng ta biết Đức Chúa Trời, nó còn giải thích về Ngài cho chúng ta, và cho chúng ta biết làm cách nào mà chúng ta có thể đứng vững ở trong Ngài. Nó cho chúng ta biết những gì Đức Chúa Trời trông chờ nơi chúng ta, và phương pháp nào chúng ta có thể hoàn thành được ý muốn của Ngài. Cuối cùng Kinh Thánh cho chúng biết về một hy vọng và một sự phán xét cuối cùng không thể tin được. Đây là hai kết quả cho những gì chúng ta chọn lựa để tin trong cuộc đời này.
    Bạn sẽ tin vào Đức Chúa Trời hay bạn tin vào con người?

    Thuyết Tiến Hóa và Giáo Lý Cơ Đốc

    Posted at  04:03:00  |  in  Khoa Học và Niềm Tin  |  Read More»

    Kết quả hình ảnh cho tiến hoá
    Hỏi: Thuyết tiến hóa là gì?
    Đáp: Thuyết tiến hóa có nghĩa là tiến trình thay đổi trải qua một thời gian dài.
    Tuy nhiên theo cách thông thường nhất từ tiến hóa được dùng để ám chỉ đến sự hình thành và phát triển sự sống trên trái đất. 
    Ý tưởng cho rằng tất cả các sinh vật sống được tiến hóa từ những sinh vật đơn giản và phát triển thành thành mọi loài khác chúng ta thấy trên trái đất ngày hôm nay được gọi là thuyết tiến hóa. Qui trình cho lý thuyết này được xúc tiến phải trải qua nhiều thời đại. Từ tiến hóa đứng một mình đôi khi cũng được dùng để đề cập đến thuyết tiến hóa.
    Hỏi: Cái được gọi là thuyết tiến hóa có nghĩa gì? Điều gì được gọi là một lý thuyết?
    Đáp: Định nghĩa đơn giản nhất của lý thuyết là một ý tưởng chưa được chứng minh nhưng nó có ý định giải thích một số điều. Ví dụ, tất cả chúng ta đều nhìn thấy ánh sáng, tuy nhiên từ trước tới nay đã có ai giải thích một cách chính xác ánh sáng là gì? Trong suốt nhiều năm đã có nhiều lý thuyết khác nhau giải thích ánh sáng, nhưng các lý thuyết trước đây bị vứt bỏ khi có một lý thuyết mới hơn phát triển. Một lý thuyết có vẻ dường như hợp lý có thể được chấp nhận một cách rộng rãi. Dù cho nó được hỗ trợ qua các bằng chứng, thì nó cũng không đủ để nói lên một sự thật. Lý thuyết chỉ có thể giải thích nhưng không thể chứng minh nó. Một minh họa cho điều này có thể được tìm thấy trong kiến thức của chúng ta là hệ mặt trời. Trải qua nhiều thế kỷ, mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao được người ta tin rằng chúng nó xoay quanh trái đất. Vào những năm đó lý thuyết này có vẻ hợp lý. Nó được đông đảo mọi người chấp nhận và được dạy ở các trường học như là một sự thật hiển nhiên. Ngày nay chúng ta biết rằng lý thuyết đó mà một thời đã được người ta chấp nhận không còn đúng nữa. Chỉ định nghĩa một lý thuyết thì không thể chứng minh nó là một sự thật.
    Hỏi: Bạn đang nói rằng thuyết tiến hóa không thể chứng minh?
    Đáp: Vâng, cũng có thể nói rằng nó sẽ không được gọi là một học thuyết. Bởi vì nó không thể chứng minh, và cũng không có ai ở đó để quan sát nó xảy ra và cũng không có bất kỳ một thực nghiệm nào được làm để biểu hiện nó ra.
    Hỏi: Có thể chọn những cách giải thích khác cho sự hình thành và phát triển của sự sống?
    Đáp: Vâng, cách giải thích khác đó là Kinh Thánh. Bản thân nó tự công bố đó là Lời Đức Chúa Trời. Nó cho chúng ta biết vũ trụ và sự sống được hình thành qua sự sáng tạo đặc biệt của Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa rằng Đức Chúa Trời là Đấng đời đời và đầy quyền năng. Toàn thể vũ trụ được hình thành và tồn tại đó là bởi hành động của ý muốn Ngài.       
    Hỏi: Có phải sự sáng tạo cũng chỉ là một lý thuyết?
    Đáp: Sự sáng tạo cũng có thể được gọi là một học thuyết giống như những tiêu chí đánh giá dành cho thuyết tiến hóa. Nó giải thích một số điều, tuy nhiên nó không thể được chứng minh một cách khoa học. Không có thí nghiệm nào được làm từ con người để chứng minh sự sáng tạo. Không ai có ở đó để quan sát khi sự sáng tạo xảy ra, ngoại trừ Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo, cũng là Đấng phán bảo với chúng ta qua Kinh Thánh sự sáng tạo đã xảy ra như thế nào. Điều này tùy thuộc vào chúng ta tin hay không tin những gì Đấng Tạo Hóa đã phán. Đây là vấn đề của đức tin.
    Hỏi: Đức tin có nghĩa gì?
    Đáp: Đức tin là tin vào một số điều mà chúng ta không thấy hay kinh nghiệm, hoặc là không có bằng chứng. Khi có bằng chứng thì đức tin cũng không cần thiết. Ví dụ chúng ta có đức tin mặt trời mọc vào buổi sáng. Chúng ta không biết điều này có phải là sự thật hay không, nhưng chúng ta tin nó. Tuy nhiên chúng ta không cần có đức tin để tin rằng mặt trời có xuất hiện ngày hôm qua. Những gì đã xảy ra ngày hôm qua là một sự thật. Tất cả chúng ta có mặt ở đó và chúng ta biết nó xảy ra. Chúng ta đã quan sát nó.
    Hỏi: Cần có đức tin để tin vào thuyết tiến hóa?
    Đáp: Vâng, đức tin là tin vào một số điều mà không thể chứng minh. Khi chúng ta nói về chủ đề này thì ngôn ngữ chính chúng ta dùng để bày tỏ nó chính là vấn đề của đức tin. Chúng ta có thể nói: “Tôi tin vào thuyết tiến hóa” hoặc “tôi tin vào sự sáng tạo”. 
    Hỏi: Tất cả các khoa học gia không tin vào thuyết tiến hóa?
    Đáp: Không phải. Có nhiều khoa học gia tin vào sự sáng tạo của Đức Chúa Trời, không tin vào thuyết tiến hóa.
    Hỏi: Không có bằng chứng của thuyết tiến hóa? Khoa học không chứng minh được những bằng chứng của thuyết tiến hóa là sự thật?
    Đáp: Không cần thiết. Các khoa học gia mà tin vào sự sáng tạo cũng nhìn vào những bằng chứng tương tự như những người tin vào thuyết tiến hóa, nhưng họ đi đến những kết luận khác nhau. Mỗi nhóm đánh giá các bằng chứng tương tự nhưng giải thích các bằng chứng đó khác nhau. Cũng có những khoa học gia nhiệt thành đứng về phía những người theo thuyết tiến hóa thừa nhận rằng thuyết tiến hóa là vấn đề của đức tin mà chính họ đã chọn lựa. Vì thế họ nhận biết thực sự nó là đức tin. Câu trích dẫn sau đây là một ví dụ: Thuyết tiến hóa chưa chứng minh được và không thể chứng minh. Chúng ta tin nó bởi vì chúng ta chỉ có một trong hai sự lựa chọn. Mà thuyết sáng tạo là điều không thể nghĩ ra được” (Arthur Keiyth).
    Hỏi: Vấn đề ở đây là: Tôi tin cái gì?
    Đáp: Hoàn toàn đúng, bởi vì niềm tin của chúng ta xác định hành động của chúng ta. Trải qua hàng thế kỷ trong quá khứ người ta tin trái đất phẳng. Niềm tin này ảnh hưởng đến hành động của họ. Họ sợ phải đi thuyền buồm ra khơi xa khuất tầm nhìn với đất liền. Cũng vậy, niềm tin phổ quát của chúng ta vẫn còn thuộc về ngày mai. Nếu bạn bị thuyết phục và tin một điều gì đó, rồi một ngày nào đó trong tương lai bạn khám phá một sự thật không giống với những gì bạn tin. Và ngày đó lại là ngày cuối cùng bạn sống trên đất này thì câu chuyện của bạn sẽ ra sao? Bạn có muốn sống ngày hôm nay khác biệt hơn những ngày khác trong quá khứ hay không?
    Hỏi: Những tổn hại nào sẽ đến khi tin vào thuyết tiến hóa?
    Đáp: Thuyết tiến hóa làm cho Đức Chúa Trời trở nên không cần thiết. Nó tạo nên một xã hội mà ở đó người ta vứt bỏ ý niệm là có một Đức Chúa Trời. Khi chúng ta bỏ qua ý niệm về Đấng tối cao, chúng ta cũng bỏ qua uy quyền đạo đức cao nhất. Nếu không có một Đức Chúa Trời dạy bảo con người về những điều đúng và sai, khi đó con người được tự do trong những quyết định cá nhân. Xuyên suốt chiều dài lịch sử của con người, chúng ta thấy hậu quả đau đớn khi con người sống và làm theo những tiêu chuẩn   bản ngã trung tâm của họ.
    Hỏi: Có phải cơ đốc nhân tin cả hai: Kinh Thánh và thuyết tiến hóa?
    Đáp: Cơ đốc nhân chỉ tin vào Lời của Đức chúa Trời.
    Hỏi: Có lẽ Đức Chúa Trời dùng thuyết tiến hóa như là phương pháp sáng tạo của Ngài. Nếu Ngài là Đấng có đầy quyền năng như Kinh Thánh đã công bố, Ngài không thể làm nên mọi vật bằng phương tiện của thuyết tiến hóa hay sao?
    Đáp: Đức Chúa Trời có thể sử dụng bất kỳ phương pháp nào Ngài chọn lựa. Nhưng vấn đề ở đây là: Phương pháp nào Đức Chúa Trời bảo rằng Ngài sẽ sử dụng? Hai chương đầu tiên của Kinh Thánh đưa ra câu trả lời này.
    Hỏi: Một số cơ đốc nhân nói rằng Đức Chúa Trời đã không giải thích thuyết tiến hóa, bởi vì con người của những thời đại trước không thể hiểu nó. Và đó là lý do tại sao hai chương đầu của sách Sáng thế ký nói lên những gì Đức Chúa Trời làm. Điều đó như thế nào?
    Đáp: Nếu chúng ta chấp nhận phạm vi của sự tranh luận, chúng ta đang nói lên điều cốt yếu, đó là Đức Chúa Trời đã không nói cho chúng ta biết sự thật. Tuy nhiên Kinh Thánh không chỉ bày tỏ Đức Chúa Trời yêu mến sự thật, nhưng Ngài thực sự là lẽ thật (Giăng 14:6). Kinh Thánh cũng nói rằng Đức Chúa Trời không thể nói dối! (Tít 1:2). Ngài không thể nói dối bởi vì chính Ngài là lẽ thật. Một trong mười điều răn đó là: “Ngươi chớ làm chứng dối” (Xuất Ê-díp-tô-ký 20:16). Có hợp lý không khi Đức Chúa Trời đưa cho chúng ta một tiêu chuẩn đạo đức cao hơn chính Ngài?
    Hỏi: Chính Kinh Thánh cũng nói ở một chỗ nào đó rằng một ngày và một ngàn năm là tương tự đối với Đức Chúa Trời. Như vậy có phải nó mang thuyết tiến hóa và sách Sáng thế ký lại với nhau?
    Đáp: Không phải như vậy. Câu đó được tìm thấy trong 2 Phi-e-rơ 3:8, “Nhưng đừng quên điều này, anh chị em yêu dấu: Đối với Chúa một ngày như ngàn năm và ngàn năm như một ngày”.   Câu này không nói với chúng ta   rằng một ngày và một ngàn năm là tương tự. Nhưng nó bày tỏ rằng Đức Chúa Trời không kinh nghiệm thời gian giống như con người. Tuy nhiên nếu Đức Chúa Trời đã dùng sáu ngàn năm để sáng tạo, hoặc sáu tỉ năm hay là sáu trăm tỉ năm thì tại sao Ngài không đơn giản nói điều đó cho chúng ta biết? Thay vì vậy Kinh Thánh ký thuật lại Đức Chúa Trời đã sáng tạo nên vạn vật trong sáu ngày, và nhấn mạnh điều này trong các câu sau: “…vậy có buổi chiều và buổi mai, ấy là ngày thứ nhất (hay ngày thứ 2, thứ 3, thứ 4, vân vân) (Sáng hế ký 1:5, 8,13,19, 23, 31).  
    Một lời chứng cá nhân
    Mặc dù tôi tin vào sự sáng tạo của Đức Chúa Trời, thì trước đây đã một lần tôi nhiệt thành tin vào thuyết tiến hóa. Tôi tin thuyết tiến hóa vì một lý do chung mà hầu hết mọi người đều tin. Đó là vì tôi đã từng nghe về nó và được dạy dỗ như vậy. Trong xã hội chúng ta có một sự thúc ép to lớn và bị kể là không thông minh khi tin vào sự sáng tạo theo Kinh Thánh. Đó là một thành kiến mang tính chống đối Kinh Thánh. Trong cộng đồng các khoa học gia và những người tri thức thường có khuynh hướng chống lại các bạn đồng sự là những người chọn lựa tin vào sự sáng tạo.
    Tôi đã đi đến một chỗ trong đời sống, tại đó tôi buộc phải xem xét lại những vấn đề này. Trong khi tìm kiếm Đức Chúa Trời cách cá nhân, tôi đi đến nhận thức rằng nếu tiếp tục tin vào thuyết tiến hóa sẽ làm xói mòn niềm tin vào Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời. Thuyết tiến hóa và sự sáng tạo theo Kinh Thánh xung khắc với nhau. Một trong hai cái này phải được sửa đổi lại. Đây không phải là vấn đề cho sự tham khảo cá nhân. Thôi muốn biết chính LẼ THẬT. Sau một thời gian ngắn cầu nguyện và tìm kiếm lẽ thật và bất cứ cái gì có thể là lẽ thật, tôi nhận ra rằng tất cả các cấu trúc phức tạp của thuyết tiến hóa trong tâm trí tôi đã bị rửa sạch giống như cát trôi đi trong một trận lụt. Tôi cảm thấy được giải phóng. Ngày xưa tôi giống như một đứa trẻ được cho ăn bằng thìa. Rõ ràng là những gì tôi học ở nhà trường về thuyết tiến hóa không có một chút nào lẽ thật.
    Tôi mời bạn hãy suy nghĩ về Kinh Thánh và Đức Chúa Trời của Kinh Thánh. Kinh Thánh không được viết ra để dạy khoa học, nhưng điều này không có nghĩa là khoa học không đúng. Khoa học cung cấp nhiều hơn những thông tin của lịch sử. Còn Kinh Thánh cung ứng những câu trả lời cho những vấn đề của đời sống. Nó cho chúng ta biết sự sống trên trái đất bắt đầu như thế nào, và bằng cách nào sự sống đó sẽ kết thúc. Nó không chỉ quan sát những bất hạnh, khổ đau, sự chết liên quan đến đời sống con người mà nó còn giải thích tại sao những điều này xảy ra. Và nó cung ứng thuốc giải độc, biện pháp cứu chữa những nan đề cho những ai chọn lựa nó.
    Kinh Thánh không chỉ giới thiệu cho chúng ta biết Đức Chúa Trời, nó còn giải thích về Ngài cho chúng ta, và cho chúng ta biết làm cách nào mà chúng ta có thể đứng vững ở trong Ngài. Nó cho chúng ta biết những gì Đức Chúa Trời trông chờ nơi chúng ta, và phương pháp nào chúng ta có thể hoàn thành được ý muốn của Ngài. Cuối cùng Kinh Thánh cho chúng biết về một hy vọng và một sự phán xét cuối cùng không thể tin được. Đây là hai kết quả cho những gì chúng ta chọn lựa để tin trong cuộc đời này.
    Bạn sẽ tin vào Đức Chúa Trời hay bạn tin vào con người?

    0 nhận xét:

    Kết quả hình ảnh cho tinh yeu

         Làm sao chúng ta biết chắc đó là một tình yêu thành thật. Chúng ta dùng chữ “love” quá nhiều đến độ từ đó trở thành sáo ngữ. Chúng ta chỉ có một chữ bày tỏ tình yêu trong tiếng Anh, là “love”, chúng ta dùng chữ này nhiều cách, từ thành ngữ “tôi yêu công việc của tôi, tôi yêu chiếc xe của tôi, tôi yêu con chó của tôi đến tôi yêu vợ tôi”.

        Nhưng tình yêu là gì? từ điển của chúng ta diễn tả điều đó là một sự yêu thương âu yếm, đam mê, một sự gắn bó riêng tư nồng thắm, sự ham muốn về nhục dục hay sự thỏa mản điều đó.

        Tôi nghĩ đó là một định nghĩa dỡ về tình yêu, nhưng buồn thay nhiều người không ao ước đạt được một điều gì cao hơn. Tình yêu hơn là một cảm xúc, đó là một sự cam kết.

        Ngược lại với tiếng Anh, tiếng Hylạp có nhiều từ để diển tả tình yêu, có một vài chữ được dùng trong Kinh-Thánh, những chữ như erōs, phileō, storgē, and agape. Eros, từ chữ này tiếng Anh có chữ erotic, là tình yêu về mặt thể xác, phileo, từ chữ đó có chữ Philadelphia, có nghĩa là tình huynh đệ, đó là tình yêu thương mà hai người bạn có, tình bằng hữu. Rồi có chữ storgē, chỉ về tình yêu trong gia đình, như tình yêu của đứa con cho cha mẹ hay của cha mẹ cho con cái.

        Cuối cùng có một chữ độc đáo để nói về tình yêu thương được dùng nhiều trong Kinh-Thánh Tân Ước, Agape. Khi chúng ta đọc thấy chữ yêu thương trong Kinh-Thánh thường đó là Agape. Đó tình yêu của Đức-Chúa-Trời một tình yêu siêu nhiên, mà chúng ta có thể biết và thực hành.

        Điều này không có nghĩa là sự thu hút về thể xác, tình yêu thương giữa bạn bè, tình yêu trong gia đình là không quan trọng, mỗi tình yêu có vị trí của nó.

        Thí dụ nếu tình yêu về thể xác được thỏa mãn trong mối liên hệ vợ chồng. Điều này có thể tuyệt diệu. Nhưng bạn không muốn xây dựng gia đình, chỉ trên sự thu hút về mặt thể chất. Nếu bạn chỉ xây dựng gia đình trên eros, chắc chắn là sẻ thất bại.

        Bạn cần thì giờ để hiểu biết về một người và để cho tình bạn được phát triển khi bạn càng thân thiết với nhau. Nhưng bạn cũng cần đến yêu siêu nhiên để nâng đỡ, được bền vững và khiến mối liên hệ của bạn được phát triển.

        Khi bạn đã xây dựng mối liên hệ của bạn trên một cái nền đúng, bạn sẻ trông đợi những năm tháng sắp đến, thay vì sợ tiến trình của sự già nua. Bạn sẻ trân qúi người bạn đời của mình càng hơn, đó không phải chỉ có vấn đề yêu thương, đó cũng là vấn đề tăng trưởng trong sự yêu thương.

        Trong khi một mối liên hệ đúng đắn, dựa trên một nền tảng đúng có thể thật tuyệt diệu. Có một tình yêu lớn hơn dành cho chúng ta, Kinh-Thánh cho chúng ta biết về điều đó, trong Giăng 3:16 “ Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời”.Chính Đức-Chúa-Trời muốn bước vào cuộc đời bạn, và bày tỏ cho bạn biết tình yêu thương thật.

        Mỗi người chúng ta được sinh ra với một khoảng trống trong tâm, mà không thể khỏa lấp bởi một người nào hay một điều gì. Chúng ta có thể tìm cách làm đầy những khoảng trống đó bằng những mối liên hệ, chúng ta có thể làm đầy khoảng trống đó bằng những tài sản, hay nghề nghiệp hay sự thành công hay cả ngàn điều khác.

        Nhưng không có điều gì có thể làm đầy những khoảng trống đó bởi vì chúng ta được tạo ra để biết Chúa. Có nhiều người trong chúng ta nhầm lẫn sự cô đơn, vì không có Chúa với một điều gì khác, trong khi thật sự là chúng ta cô đơn, vì không có một mối liên hệ với Đức-Chúa-Trời, mà chúng ta đã bị phân cách.
        Bạn có một mệt mỏi vì những sự yêu thương giả dối, mà thế gian này ban cho. Những người nói là họ yêu bạn nhưng rồi khai thác bạn hay lợi dụng bạn.
        Chúa sẻ không bao giờ khai thác bạn, Ngài sẻ không bao giờ lợi dụng bạn. Nhưng điều Ngài sẻ làm là bày tỏ cho bạn biết thế nào là tình yêu thương thật.
    Ngài yêu bạn với loại tình yêu tốt đẹp nhất, Agape, đó là tình yêu thật sự.

    chuyển ngữ theo “looking for love” by Greg Laurie

    Tìm Kiếm Tình Yêu

    Posted at  04:02:00  |  in  Ý Nghĩa Cuộc Sống  |  Read More»

    Kết quả hình ảnh cho tinh yeu

         Làm sao chúng ta biết chắc đó là một tình yêu thành thật. Chúng ta dùng chữ “love” quá nhiều đến độ từ đó trở thành sáo ngữ. Chúng ta chỉ có một chữ bày tỏ tình yêu trong tiếng Anh, là “love”, chúng ta dùng chữ này nhiều cách, từ thành ngữ “tôi yêu công việc của tôi, tôi yêu chiếc xe của tôi, tôi yêu con chó của tôi đến tôi yêu vợ tôi”.

        Nhưng tình yêu là gì? từ điển của chúng ta diễn tả điều đó là một sự yêu thương âu yếm, đam mê, một sự gắn bó riêng tư nồng thắm, sự ham muốn về nhục dục hay sự thỏa mản điều đó.

        Tôi nghĩ đó là một định nghĩa dỡ về tình yêu, nhưng buồn thay nhiều người không ao ước đạt được một điều gì cao hơn. Tình yêu hơn là một cảm xúc, đó là một sự cam kết.

        Ngược lại với tiếng Anh, tiếng Hylạp có nhiều từ để diển tả tình yêu, có một vài chữ được dùng trong Kinh-Thánh, những chữ như erōs, phileō, storgē, and agape. Eros, từ chữ này tiếng Anh có chữ erotic, là tình yêu về mặt thể xác, phileo, từ chữ đó có chữ Philadelphia, có nghĩa là tình huynh đệ, đó là tình yêu thương mà hai người bạn có, tình bằng hữu. Rồi có chữ storgē, chỉ về tình yêu trong gia đình, như tình yêu của đứa con cho cha mẹ hay của cha mẹ cho con cái.

        Cuối cùng có một chữ độc đáo để nói về tình yêu thương được dùng nhiều trong Kinh-Thánh Tân Ước, Agape. Khi chúng ta đọc thấy chữ yêu thương trong Kinh-Thánh thường đó là Agape. Đó tình yêu của Đức-Chúa-Trời một tình yêu siêu nhiên, mà chúng ta có thể biết và thực hành.

        Điều này không có nghĩa là sự thu hút về thể xác, tình yêu thương giữa bạn bè, tình yêu trong gia đình là không quan trọng, mỗi tình yêu có vị trí của nó.

        Thí dụ nếu tình yêu về thể xác được thỏa mãn trong mối liên hệ vợ chồng. Điều này có thể tuyệt diệu. Nhưng bạn không muốn xây dựng gia đình, chỉ trên sự thu hút về mặt thể chất. Nếu bạn chỉ xây dựng gia đình trên eros, chắc chắn là sẻ thất bại.

        Bạn cần thì giờ để hiểu biết về một người và để cho tình bạn được phát triển khi bạn càng thân thiết với nhau. Nhưng bạn cũng cần đến yêu siêu nhiên để nâng đỡ, được bền vững và khiến mối liên hệ của bạn được phát triển.

        Khi bạn đã xây dựng mối liên hệ của bạn trên một cái nền đúng, bạn sẻ trông đợi những năm tháng sắp đến, thay vì sợ tiến trình của sự già nua. Bạn sẻ trân qúi người bạn đời của mình càng hơn, đó không phải chỉ có vấn đề yêu thương, đó cũng là vấn đề tăng trưởng trong sự yêu thương.

        Trong khi một mối liên hệ đúng đắn, dựa trên một nền tảng đúng có thể thật tuyệt diệu. Có một tình yêu lớn hơn dành cho chúng ta, Kinh-Thánh cho chúng ta biết về điều đó, trong Giăng 3:16 “ Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời”.Chính Đức-Chúa-Trời muốn bước vào cuộc đời bạn, và bày tỏ cho bạn biết tình yêu thương thật.

        Mỗi người chúng ta được sinh ra với một khoảng trống trong tâm, mà không thể khỏa lấp bởi một người nào hay một điều gì. Chúng ta có thể tìm cách làm đầy những khoảng trống đó bằng những mối liên hệ, chúng ta có thể làm đầy khoảng trống đó bằng những tài sản, hay nghề nghiệp hay sự thành công hay cả ngàn điều khác.

        Nhưng không có điều gì có thể làm đầy những khoảng trống đó bởi vì chúng ta được tạo ra để biết Chúa. Có nhiều người trong chúng ta nhầm lẫn sự cô đơn, vì không có Chúa với một điều gì khác, trong khi thật sự là chúng ta cô đơn, vì không có một mối liên hệ với Đức-Chúa-Trời, mà chúng ta đã bị phân cách.
        Bạn có một mệt mỏi vì những sự yêu thương giả dối, mà thế gian này ban cho. Những người nói là họ yêu bạn nhưng rồi khai thác bạn hay lợi dụng bạn.
        Chúa sẻ không bao giờ khai thác bạn, Ngài sẻ không bao giờ lợi dụng bạn. Nhưng điều Ngài sẻ làm là bày tỏ cho bạn biết thế nào là tình yêu thương thật.
    Ngài yêu bạn với loại tình yêu tốt đẹp nhất, Agape, đó là tình yêu thật sự.

    chuyển ngữ theo “looking for love” by Greg Laurie

    0 nhận xét:

    Kết quả hình ảnh cho hy vọng

    Steve Sawyer

        Vào những năm 1980, Steve Sawyer, một bệnh nhân bị rối loạn máu, nhiễm vi trùng HIV và vi trùng gan hoá C từ những nguồn máu không có màn che. Sau nhiều năm, lúc 19 tuổi, biết mình sắp chết, Steve trải qua những năm tháng còn lại của mình đến thăm hàng trăm khuôn viên trường cao đẳng, chia xẻ với các bạn sinh viên những điều mà cậu ta học được làm thế nào sống hy vọng và bình an giữa cảnh đời đen tối của mình. Hàng ngàn sinh viên đã nghe Steve nói chuyện muốn kể lại cho bạn về niềm hy vọng và tình yêu của Thượng Đế đã biến đổi cuộc đời họ mãi mãi. Câu chuyện sau đây do Steve đã trình bày tại trường Đại Học Santa Barbara ở California.


        Xa xa ngoài bờ biển Maine, chiếc Hải quân chìm vào trong màn sương mù dày đặc. Đêm nay, viên chuẩn uý Hải quân nhìn thấy ngọn đèn sáng ở đằng xa, và lập tức liên lạc cho thuyền trưởng biết, "Ở đằng xa có ánh điện sáng hướng thẳng về phía chúng ta, thuyền trưởng cần chúng tôi làm gì?" Thuyền trưởng bảo viên chuẩn úy bật tín hiệu cho tàu lớn, điều khiển đổi hướng. Tàu lớn đáp tín hiệu, "Không được, tàu bạn cần chuyển hướng" . Thuyền trưởng lại bảo viên chuẩn uý ra lệnh tàu lớn đang tiến đến gần cần phải chuyển hướng ngay lập tức. Và cũng như lần trước, tàu lớn trả lới, "Không, tàu bạn cần đổi hướng." Cố gắng lần cuối, viên chuẩn úy ra tín hiệu cho tàu lớn, "Theo lệnh từ thuyền trưởng của Tàu Chiến Hải Quân Hữu Hạng của Mỹ, tàu bạn cần chuyển hướng ngay lập tức." Câu trả lời, "Không, tàu bạn cần chuyển hướng. Đây là Tàu Hải Đăng."    Câu chuyện trên cho chúng ta cách giải quyết những đau đớn và đau khổ của con người. Chúng ta luôn muốn những hoàn cảnh xung quanh chúng ta thay đổi, thay vì thay đổi chính mình để đáp ứng với hoàn cảnh.Cuộc đời tôi là một minh hoạ về điều này. Tôi được sinh ra đã mang bệnh rối loạn máu, sự rối loạn máu gây cho xương cốt và những khớp xương xưng phồng lên mà không biết lý do vì sao. Bệnh rối loạn này chỉ được chữa trị bằng một chất đạm protein tích từ những nguồn máu của những người hiến máu. Và rồi, một thời điểm nào đó vào giữa 1980 đến 1983, một trong những nguồn hiến máu vào phần tích lũy của tôi bị nhiễm vi trùng HIV. Hậu qủa là tôi nhận toàn bộ số thuốc chữa từ nguồn tích máu (có lẽ hàng trăm) nhiễm HIV. Sau đó tôi cũng bị nhiễm vi trùng gan hoá C luôn.


        Thật vậy, mãi cho đến 1990 khi tôi còn là sinh viên năm thứ hai cấp trung học, không ai nói cho tôi biết tôi là bệnh nhân HIV. Rồi lúc tôi được biết mình bị nhiễm HIV, phản ứng đầu tiên của tôi tỏ ra bình thường như khi chúng ta mắc phải một nan đề nào đó mà chúng ta không giải quyết được. Tôi chỉ từ chối mình là nạn nhân HIV và cố giả vờ như không có. HIV không làm đau như bệnh rối loạn máu. Với bệnh rối lọan máu, khi các khớp xương và các cơ bắp bị xưng lên, thì rất là đau. Nhưng HIV không có triệu chứng bên ngoài. Bạn không thể để ý được điều gì, như vậy thật dễ dàng giả vờ như không có. Ba mẹ của tôi cũng đã từng giải quyết như vậy. Họ noí, "Con trông có vẻ khỏe lắm, có vẻ tốt lắm, như vậy là con không có vấn đề gì."


        Một ví dụ rõ hơn về tội từ chối này được tìm thấy trong cuốn phim "Trong cuộc truy tìm Holy Grail" của Monty Python. Ở một hồi cảnh, nhà Vua Arthur cỡi ngựa vào khu rừng, và bất ngờ gặp tên hiệp sĩ mặc giáp đen. Tên hiệp sĩ đón đường nhà Vua, và như vậy Vua Arthur thấy mình không thể đi qua được nếu mình thua trận với tên hiệp sĩ này. Và rồi cuộc chiến xảy ra và Vua Arthur đã chém đứt cánh tay của tên hiệp sĩ da đen này. Vua Arthur hạ gươm vào vỏ, cuối đầu và dắt bộ qua, nhưng tên hiệp sĩ nói, "Không được đi!" Nhà vua Arthur nói, "Ta đã chém đứt cánh tay mày rồi!" Tên hiệp sĩ nhìn vào cánh tay bị chém đứt, nói, "Không! Không được đi!" Vì vậy Vua Arthur nhìn xuống đất và nói, "Cánh tay mày ở đằng kia kìa!" Và tên hiệp sĩ nói, "Đó chỉ là vết thương thể xác." Vua Arthur nghĩ rằng mình cần làm cho gã này bị tàn tật thật là nặng mới đi qua được. Và như vậy cuộc chiến tiếp tục và Vua Arthur chém đứt tất cả tứ chi của tên hiệp sĩ này cho đến lúc chỉ còn lại thân hình với cái đầu trên mặt đất. Khi Vua Arthur cưỡi ngựa qua, bạn chỉ có thể nghe tên hiệp sĩ kêu gào thật đau đớn, "Đồ hèn, hãy trở lại đây, ta sẽ cắn đứt đầu gối mày ra!"    Ồ, không cần phải nói, tên hiệp sĩ này đang từ chối. Anh ta không thể đối diện với sự việc là mình đa õbại trận. Và mặc dù đây chỉ là ví dụ khôi hài về bài học từ chối, nhưng những nguy hiểm của nó rất và rất thật. Nếu tôi tiếp tục từ chối mình bị nhiễm HIV, tôi có thể không làm theo những lời đề phòng đáng cân nhắc bằng những vết cắt rất nhỏ trên các ngón tay của mình, hoặc những việc tương tự như vậy, và tôi cũng có thể làm cho người nào đo ùđau đớn hoặc là giết hại người. Nhưng bản thân bạn cũng gặp phải những nguy hiểm khi bạn từ chối một điều gì đo ù rất là nguy hiểm và rất đau đớn. Khi bạn muốn đẩy một điều gì đó trong một thời gian khá lâu, rồi cố giả vờ không có điều gì xảy ra, thì bạn không tránh khỏi những nguy hiểm. Và cuối cùng nó sẽ bùng nổ.    Tôi có thể từ chối mình là nạn nhân HIV gần suốt ba năm. Tuy nhiên, khi tôi vào năm thứ tư cấp trung học, tôi rất là yếu. Những triệu chứng của căn bệnh bắt đầu lộ ra. Những tế bào hình T là những bạch huyết cầu kháng sinh với tình trạng nhiễm trùng, và bạn sẽ biết bạn là nạn nhân HIV hay là nạn nhân AIDS là do số tế bào hình T trong cơ thể bạn. Khi số tế bào hình T giảm dưới 200, thì AIDS đang phát triển rất mạnh trong bạn. Và rồi, số tế bào hình T của tôi là 213 và đang giảm dần. Tôi yếu hẳn đi, và rất xanh xao, và tôi không thể tiếp tục ăn uống gì được. Tôi không còn giả vờ là mình không có HIV bởi vì nó lộ ra rất thật, rất thật.    Từ chối không còn là một sự chọn lựa, vì vậy tôi tìm một phương pháp mới để giải quyết mọi điều mà mình đang trải qua. Điều đầu tiên là tôi muốn chửi rủa người nào đó. Tôi nghĩ mình sẽ tốt hơn nếu một ai đó bước đến gần mình và nói, "Này, Steve, mình (tôi) lấy làm tiếc vì đó là lỗi bạn." Vì vậy đầu tiên tôi quyết định chửi bới toàn bộ những người mắc phải bệnh đồng tình luyến ái. Thật là dễ dàng qúa. Nhưng sau khi tôi nghĩ về điều đó, tôi nhận ra rằng mình thật là ngốc chỉ vì vấn đề của mình, mà phải chửi rủa toàn nhóm người đó. Sau đó, tôi quyết định nguyền rủa Đức Chúa Trời. Thật sự lúc này tôi chưa tin Đức Chúa Trời, nhưng tôi hình dung là có ai đó đang kiểm soát tình trạng bệnh hoạn của mình, thì chỉ có Đức Chúa Trời. Vì vậy, tôi nguyền rủa Đức Chúa Trời.    Khi trong thân thể bạn có một chỗ nào đó bị đau, thật là đau, thì bạn thường tỏ ra giận dữ. Và cuối cùng nổi cơn thịnh nộ. Bây giờ, tôi điên đầu khi giải quyết những vấn đề của mình. Bất cứ lúc nào ai đó nói điều gì làm cho tôi khó chịu, tôi nổi khùng với họ. Đấm tường. Phá nhà, phá cửa. Những việc đại khái như vậy.Nhưng tôi thấy giận giữ chỉ làm cho mình thêm phiền hơn, điều đó sẽ khiến bạn hành động không có lý trí chút nào. Tồi tệ hơn nữa, suốt qúa trình hỗn loạn đó, bạn cũng gây tổn thương đến những người thân của mình. Tốt hơn là kêu khóc khi giải quyết những vấn đề của mình, vì sẽ không làm hại ai, và cảm thấy thoải mái hơn.    Và rồi, có lần tôi ở trong phòng và lúc tôi ở giai đoạn cuối của căn bệnh. Tôi rất yếu và mất hết trọng lượng. Tôi kêu gào, vừa đấm tường vừa thề rủa Đức Chúa Trời, và rồi ba tôi bước vào. Ông đóng cửa lại. Ba tôi là kẻ cai nghiện rượu. Qua AA ông biết được quyền lực cao tay hơn, ông đã học biết Đức Chúa Trời. Cha tôi nhìn tôi rồi nói, "Ba biết con, Steve à, ba không thể giúp được gì cho con. Các bác sĩ của con không thể giúp con được. Mẹ của con không thể giúp con. Con cũng không thể giúp chính con được. Một Đấng duy nhất có thể giúp con ngay lúc này là Đức Chúa Trời." Và ông ra khỏi phòng, đóng cửa lại.Bây giờ, tôi hết nguyền rủa Đức Chúa Trời, và tôi cũng không nghĩ mình là hoàn toàn tốt để kêu xin Ngài giúp đỡ. Nhưng tôi không còn một lựa chọn nào khác. Tôi qùy gối, rồi khóc và thưa với Chúa, "Lạy Chúa, nếu Ngài ở đó, xin Ngài giúp con, thì con sẽ giúp Ngài." Ồ, trong chốc lát, tôi lấy lại toàn bộ trọng lượng. Số tế bào hình T nhảy lên khoảng 365, thật là tốt. Và tôi cảm thấy khỏe. Tôi cảm thấy mạnh y hệt như vậy đó. Và tôi suy nghĩ, "Được lắm, cám ơn Đức Chúa Trời. Tạm biệt Ngài. Thật là tốt. Tạm biệt."    Tốt nghiệp trung học xong, tôi vào trường cao đẳng thi chuyển cấp vào mùa hè trước năm thứ nhất. Đây cũng chính là lúc tôi gặp bạn cùng phòng với tôi. Tôi đến đó và hoàn tất kỳ thi, và rồi gặp cậu bé có dáng người cao ráo, có nước da đỏ hung. Cậu bé nói, "Chào, bạn trông có vẻ bình thường đó chứ. Có muốn làm bạn cùng phòng với tôi không?" Và rồi tôi suy nghĩ, được thôi, nhưng bạn không được ."Hãy nhớ là ." Chúng tôi về cùng phòng, thật vậy chúng tôi thân nhau lắm. Tôi phát hiện bạn cùng phòng với tôi là Cơ Đốc Nhân. Đối với tôi, Cơ Đốc Nhân là đạo đức giả, hay chỉ trích, và hay chiếu cố. Đó là những gì tôi cho là Cơ đốc nhân. Nhưng bạn cùng phòng với tôi thì khác.Bạn tôi khó có thể đọc sách. Tôi để ý khi cậu ta ngồi học và rồi bước đến chỗ gây khó chịu -- chỗ mà tôi đấm tường và phá hủy đồ đạccậu ta chỉ dừng lại, nhắm mắt, cầu nguyện, và hít một hơi, rồi trở về chỗ học. Điều đó đã làm tôi dịu hẳn đi. Tôi ngẫm nghĩ, "làm sao mày không phá vỡ một cái gì đó? Mày phải đập vỡ cái gì đo ùchứ!" Tôi ngạc nhiên là cậu ta có thể làm được điều này.    Vào kỳ nghỉ xuân, bạn cùng phòng với tôi mời tôi đi nghỉ tại bờ biển Daytona. Khi đến đó, bạn tôi bắt đầu nói chuyện với một gã bên cạnh chúng tôi tại bờ biển. Lúc đầu, chúng tôi chỉ nói những chuyện lặt vặt, rất bình thường. Sau đo ùbạn tôi đi vào những vấn đề sâu hơn, mang tính nặng nề hơn. Tôi không muốn xen vào những chuyện đó. Tôi đã đauá tranh rất nhiều. Thật là ngoan cố khi bạn biết mình sắp chết ở cái tuổi thanh niên như vậy. Và tôi thật sự không muốn nói chuyện với gã thanh niên lạ mặt ở bờ biển, vì vậy tôi rút lui. Họ vẫn tiếp tục nói, và cuối cùng, là một Cơ Đốc Nhân bạn tôi cố giải thích mình tin cái gì. Tôi luôn mang hình ảnh về một Cơ Đốc Nhân là gì, nhưng không bao giờ biết họ tin hay suy nghĩ điều gì. Vì vậy, tôi lắng nghe những gì bạn tôi nói.    Tôi không biết tôi có thể giải thích đầy đủ như bạn tôi không, nhưng cậu ta nói cái gì đo ùnhư thế này, "Rõ ràng, tôi tin Đức Chúa Trời. Và tôi tin Đức Chúa Trời tạo nên chúng ta trong mối liên hiệp với Ngài. Nhưng chúng ta không muốn ở trong mối liên hiệp với Ngài, vì vậy chúng ta đẩy Ngài ra khỏi cuộc đời mình. Đẩy Đức Chúa Trời ra khỏi, đo ùlà phản loạn --tích cực hay tiêu cực phản loạn, chống lại Đức Chúa Trời -- theo lời Kinh Thánh đó là tội lỗi. Tôi không thích từ "tội lỗi", vì vậy tôi nghĩ tội lỗi là đẩy Đức Chúa Trời ra khỏi. Bởi chúng ta được tạo dựng trong mối liên hệ với Ngài, và vì chúng ta đã đẩy Ngài ra khỏi cuộc đời mình, thì chúng ta phải bị phạt. Hình phạt vì tội phản loạn với Đức Chúa Trời là sự chết, nghĩa là chúng ta đáng chết. Và có cái chết tinh thần, đó là chúng ta sẽ xa cách Đức Chúa Trời. Tôi nghĩ, ồ thật là vui qúa.    Vì vậy, tôi nói, "Nhưng Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta." Và bạn tôi trả lời, "Nhưng Đức Chúa Trời cũng rất công bình. Tình yêu thương không công bình thì không có nghĩa gì hết." Điều đo ùthật sự làm cho tôi suy nghĩ. Vì vậy bạn tôi nói, "Hãy tưởng tượng xem người mà bạn chăm sóc nhiều nhất trên thế giới, người mà ngay tức khắt cho bạn cả một cuộc đời. Rồi thử tưởng tượng chính bạn lại xua đuổi người đó, không gặp lại trong thời gian khá lâu. Rồi một ngày kia, bạn gặp người đó cách xa 50 thươcù, bạn chạy đến, giang rộng đôi tay mình ra, nhưng bạn dừng lại và nói: "Không mày đã đayå tôi ra khỏi rồi, có nhớ không?" Bây giờ thử tưởng tượng bạn đayå Đức Chúa Trời, tình yêu cao cả nhất trên thế gian này ra khỏi cuộc đời mình."Rồi tôi nghĩ, "Chà, như vậy không ổn rồi." Nhưng bạn tôi nói, "Ồ, may thay, không thể kết thúc ở đayâ." Vì Đức Chúa Trời rất yêu chúng ta, chăm sóc chúng ta chu đaó, Ngài quyết định đền tội thay cho chúng ta. Đức Chúa Trời đã sai Con Một của Ngài, là Đức Chúa Giê Xu, chết trên thập tự giá thế cho chúng ta. Và vì Chúa Giê Xu (là Đức Chúa Trời khi sống trong xác thịt), đã không có tội, nên Ngài có thể đêàn tội cho người khác. Ngài đã đền tội thế cho chúng ta."Và bạn tôi nói tiếp, "Rồi sau ba ngày Chúa Giê Xu từ kẻ chết sống lại. Ngài đã đắc thắng tử thần và ban cho chúng ta sự sống đời đời. Bây giờ, chúng ta không chết, nhưng lúc đó hưởng sự sống vĩnh cửu với Đức Chúa Trời, tình yêu cao cả nhất trên thế gian này."    Rồi tôi nói, "ối chà." Bạn tôi nói, "Điều đáng lưu tâm ở đây là, cho dù Ngài ban cho chúng ta sự sống đời đời, và đền tội thế cho chúng ta, nhưng nếu bạn không chấp nhận ., thì đó là tùy bạn." Tôi vẫn chưa rõ điều này, và thật may cho tôi, gã thanh niên nọ cũng không hiểu. Vì vậy, bạn tôi nói, "Được rồi, như vậy thì bạn thử tưởng tượng lái xe xuống đường. Bạn cho xe chạy 90 mph, trong khi hạn chế tốc độ là 35. Bạn đang bay xuống đường, cảnh sát thổi còi gọi bạn lại bên lề đường và viết giấy phạt. Để trả tiền phạt, ngày hôm sau bạn phải đená toà án. Khi bạn vào phòng xử án, nhìn lên, bạn thấy ông thẩm phán là cha của bạn. Và bạn nghĩ, ô hay, đó là ba của tôi. Cha của bạn nhìn bạn và noí, "Steve, con phạm luật hả?" Và rồi bạn trả lời, "Dạ." Vì vậy ông ta noí, "Được, phạt $500 hay ngồi tù hai ngày! Ông ta gõ búa và như vậy là đủ."Bây giờ, vì ông công bình, ông phải thi hành án phạt. Nhưng lúc đó ông bước ra khỏi ghế thẩm phán, cởi áo choàng, lấy $500 trong túi ra và đưa cho bạn. Vì ông yêu thương bạn, ông trả tiền phạt cho bạn. Và bạn phải chấp nhận sự trả thay đó. Ông đứng vào chỗ của bạn cầm trong tay $500, nói "Con đi đi." Cũng vậy, với Đức Chúa Trời bạn có thể nói, "Không, con chỉ trải qua thời gian sống đời đời xa lìa Ngài" Đó là sự chọn lựa của con.    Bạn tôi bày tỏ cho chúng tôi cách chấp nhận sự đền tội thế bằng cách cầu nguyện. Cậu ta nói, "Chỉ cần bạn chấp nhận sự đền tội thế của Đức Chúa Trời. Đó là Hồng Aân của Ngài ban cho chúng ta. Bạn không cần phải làm điều gì để lãnh hồng ân đó. Đó là món qùa mà Đức Chúa Trời ban cho bạn." Đây là lần đầu tiên tôi nghe về hồng ân. Bạn tôi nói, "Đó là món qùa mà bạn chấp nhận bằng đức tin bằng cách cầu nguyện." Và bạn tôi ngỏ ý cầu nguyện với gã thanh niên lạ mặt. Trong lúc cậu ta cầu nguyện to, tôi cũng cầu nguyện, nhưng yên lặng.    Từ giây phút đó trở đi, cuộc đời tôi mang niềm tin hoàn toàn mới mẻ. Mỗi đêm tôi đi ngủ, không còn phải lo lắng ngày mai mình có còn sống không. Tôi không còn sợ chết nữa, vì chết không kết thúc trong đêm tối. Bây giờ khi tôi chết tôi sẽ được sống đời đời, kiếp kiếp với Đức Chúa Trời, tình yêu cao cả nhất trên thế gian này. Thật là mãn nguyện.Cha mẹ tôi cũng đã từng chấp nhận sự đền tội thế này. Họ cũng cầu nguyện với Đức Chúa Trời như tôi đã làm. Và đời sống họ cũng mang một niềm tin hoàn toàn mới mẻ. Thật đanùg ngạc nhiên khi suy nghĩ rằng họ để tôi đi đây đó, vì họ biết tôi chỉ còn sống trong 6 tháng nữa thôi. Bạn có thể tưởng tượng thật khó khăn cho họ đứng khoanh tay nhìn con trai mình chết trước mặt. Họ không thể làm điều gì được. Nhưng bây giờ, lý do duy nhất mà họ có thể làm, và lý do duy nhất mà tôi có thể bày tỏ là mỗi người chúng ta cần có Đức Chúa Giê Xu Christ trong đời sống chúng ta.    Tôi xin phép tạo cho bạn một cơ hội chấp nhận sự đền tội thế cho bạn. Nếu bạn có cách chữa AIDS, tôi chắc rằng bạn sẽ giúp tôi. Tôi biết con đường đến sự sống đời đời, đo ùlà món quà Đức Chúa Trời ban cho bạn. Vì vậy, tôi muốn nói với bạn điều này: Nếu bạn đang gặp phải một nan đề bạn không thể giải quyết được, và bạn cần người nào đo ùủng hộ và tiếp đonù bạn khi cả thế gian này xua đuổi bạn và đẩy bạn ra sau lưng, thì bạn hãy cầu nguyện với tôi ngay thì giờ này. Đây không phải là một lời nói huyền thoại hay câu thần chú nào đó. Và đây cũng không phải là một suy nghĩ xúc cảm. Nhưng hơn thế nữa là được kết hiệp với Đức Chúa Trời. Và y như bất cứ một mối liên kết nào, cũng cần có thời gian. Cần có nổ lực. Nhưng tôi giục bạn: nếu bạn thật sự cảm thấy cần điều này, đừng bỏ qua cơ hội. Bạn tự do để làm điều này.    Vì vậy, tôi cầu nguyện. Cầu nguyện không phải là điều gì đó như là nhắm mắt hay cuối đauà hay khoanh tay hay kêu lên "Halêlugia." Không phải như thế. Đó là thái độ phát ra từ tấm lòng. Cầu nguyện là nói chuyện cùng Đức Chúa Trời, "Lạy Đức Chúa Trời, con đã phạm luật. Con đã đẩy Ngài ra khỏi cuộc đời con. Và thì giờ này con muốn trở về chấp nhận sự đenà tội thay của Ngài." Nếu bạn cảm thấy cần, hãy cầu nguyện như thế này ngay thì giờ này. "Kính lạy Chúa Giê Xu Christ yêu dấu của con, Con cần đến Ngài. Con cám ơn Ngài vì Ngài đã chết thế cho con trên thập tự giá. Con xin Ngài ngự vào lòng con và biến đổi con trở nên con người Chúa muốn. Amen.    Bây giờ, nếu bạn chân thành cầu nguyện, bạn sẽ bắt đầu bước vào mối tương giao mật thiết và gần guĩ nhất mà bạn chưa bao giờ cảm nhận được -- mối tương giao với Đức Chúa Trời. Và điều đó cũng không phải dừng lại chỉ bằng lời cầu nguyện. Nhưng mối liên hiệp với Đức Chúa Trời là một qúa trình. Điều này có nghĩa rằng mỗi ngày bạn phải tin cậy Đức Chúa Trời, không nhất thiết làm điều gì mà bạn muốn hay bạn cho là tốt, nhưng làm những gì bạn suy nghĩ Đức Chúa Trời muốn bạn làm. Tôi nghe người ta nói với tôi, "Cơ Đốc Giáo làm việc thiện cho bạn và điều đó thật là tuyệt vời." Những tôn giáo khác không làm việc thiện cho kẻ khác sao? Đó là một hỏi hay. Tôi tin Đức Chúa Trời cho chúng ta một con đường đến với Ngài -- qua sự chết của Đức Chúa Giê Xu trên thập tự giá -- cho dù có một yếu tố lẽ thật trong những tôn giáo khác. Đó chỉ là luân lý đạo đức --"Hãy làm điều này bảy lần một ngày và như vậy bạn sẽ đến gần Đức Chúa Trời." Nhưng nếu bạn cố làm việc hướng về Đức Chúa Trời, thì bao nhiêu công việc cho đủ?. Làm sao bạn biết được mình làm đủ để đạt tới đích?.    Tôi suy nghĩ Cơ Đốc Giáo tìm thấy chân lý ở đâu: Chỉ trong hồng ân của Đức Chúa Trời. Chúng ta biết rằng chúng ta không bao giờ đạt đến sự trọn vẹn, chúng ta cần cậy vào ơn thứ tha của Đức Chúa Trời. Mục tiêu là chúng ta bước theo đường lối ý chỉ của Ngài, cho dù chúng ta nhiều lần chạy quanh co. Bạn lầm lỗi, nhưng bạn cứ tiếp tục đi theo đường lối của Ngài. Bạn cứ làm việc hướng về ý chỉ của Ngài, tin cậy trong ơn điển của Đức Chúa Trời. Bạn cầu nguyện. Bạn đọc Kinh Thánh. Bạn sẽ thấy Đức Chúa Trời cần bạn điều gì. Một ngày nào đó, bạn sẽ cảm nhận được sự bình an. Mãi cho đến lúc bạn được lên Thiên Đàng, mà điều đo ù chưa thực hiện được, nhưng nó còn đời đời.Steve Sawyer chết vì bệnh gan hoá vào ngày 13-3-1999. Anh đã trải qua những năm tháng còn lại của mình đến thăm hàng trăm trường cao đẳng, cho dù việc đi lại đã làm cho anh đau đớn gấp bội phần. Vào những ngày cuối cùng của đời mình, Steve nói rằng anh muốn nói "thêm một trường nữa." Tại sao vậy? "Nếu tôi đã gặp phải căn bệnh này đã giết đời tôi mà hiểu được rằng cần phải liên hiệp với Đức Chúa Trời, thì thật xứng đáng. Trong niềm tin để nhận được sự sống đời đời, đó là tất cả những gì tôi muốn nói."


    Lời Kinh Thánh có chép:
    "Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Đức Giê Hô Va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên Người" (Ê sai. 53:6).

    "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời" (Giăng 3: 16).

    "Qủa thật, qủa thật Ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời Ta mà tin Đấng đã sai Ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống" (John 5:24).

    "Hỡi sự chết, sự thắng của mày ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mày ở đâu?" (I Côrinhtô. 15: 55).

    Sống có Hy Vọng Dù Cuộc Đời Có Ra Sao

    Posted at  03:53:00  |  in  Ý Nghĩa Cuộc Sống  |  Read More»

    Kết quả hình ảnh cho hy vọng

    Steve Sawyer

        Vào những năm 1980, Steve Sawyer, một bệnh nhân bị rối loạn máu, nhiễm vi trùng HIV và vi trùng gan hoá C từ những nguồn máu không có màn che. Sau nhiều năm, lúc 19 tuổi, biết mình sắp chết, Steve trải qua những năm tháng còn lại của mình đến thăm hàng trăm khuôn viên trường cao đẳng, chia xẻ với các bạn sinh viên những điều mà cậu ta học được làm thế nào sống hy vọng và bình an giữa cảnh đời đen tối của mình. Hàng ngàn sinh viên đã nghe Steve nói chuyện muốn kể lại cho bạn về niềm hy vọng và tình yêu của Thượng Đế đã biến đổi cuộc đời họ mãi mãi. Câu chuyện sau đây do Steve đã trình bày tại trường Đại Học Santa Barbara ở California.


        Xa xa ngoài bờ biển Maine, chiếc Hải quân chìm vào trong màn sương mù dày đặc. Đêm nay, viên chuẩn uý Hải quân nhìn thấy ngọn đèn sáng ở đằng xa, và lập tức liên lạc cho thuyền trưởng biết, "Ở đằng xa có ánh điện sáng hướng thẳng về phía chúng ta, thuyền trưởng cần chúng tôi làm gì?" Thuyền trưởng bảo viên chuẩn úy bật tín hiệu cho tàu lớn, điều khiển đổi hướng. Tàu lớn đáp tín hiệu, "Không được, tàu bạn cần chuyển hướng" . Thuyền trưởng lại bảo viên chuẩn uý ra lệnh tàu lớn đang tiến đến gần cần phải chuyển hướng ngay lập tức. Và cũng như lần trước, tàu lớn trả lới, "Không, tàu bạn cần đổi hướng." Cố gắng lần cuối, viên chuẩn úy ra tín hiệu cho tàu lớn, "Theo lệnh từ thuyền trưởng của Tàu Chiến Hải Quân Hữu Hạng của Mỹ, tàu bạn cần chuyển hướng ngay lập tức." Câu trả lời, "Không, tàu bạn cần chuyển hướng. Đây là Tàu Hải Đăng."    Câu chuyện trên cho chúng ta cách giải quyết những đau đớn và đau khổ của con người. Chúng ta luôn muốn những hoàn cảnh xung quanh chúng ta thay đổi, thay vì thay đổi chính mình để đáp ứng với hoàn cảnh.Cuộc đời tôi là một minh hoạ về điều này. Tôi được sinh ra đã mang bệnh rối loạn máu, sự rối loạn máu gây cho xương cốt và những khớp xương xưng phồng lên mà không biết lý do vì sao. Bệnh rối loạn này chỉ được chữa trị bằng một chất đạm protein tích từ những nguồn máu của những người hiến máu. Và rồi, một thời điểm nào đó vào giữa 1980 đến 1983, một trong những nguồn hiến máu vào phần tích lũy của tôi bị nhiễm vi trùng HIV. Hậu qủa là tôi nhận toàn bộ số thuốc chữa từ nguồn tích máu (có lẽ hàng trăm) nhiễm HIV. Sau đó tôi cũng bị nhiễm vi trùng gan hoá C luôn.


        Thật vậy, mãi cho đến 1990 khi tôi còn là sinh viên năm thứ hai cấp trung học, không ai nói cho tôi biết tôi là bệnh nhân HIV. Rồi lúc tôi được biết mình bị nhiễm HIV, phản ứng đầu tiên của tôi tỏ ra bình thường như khi chúng ta mắc phải một nan đề nào đó mà chúng ta không giải quyết được. Tôi chỉ từ chối mình là nạn nhân HIV và cố giả vờ như không có. HIV không làm đau như bệnh rối loạn máu. Với bệnh rối lọan máu, khi các khớp xương và các cơ bắp bị xưng lên, thì rất là đau. Nhưng HIV không có triệu chứng bên ngoài. Bạn không thể để ý được điều gì, như vậy thật dễ dàng giả vờ như không có. Ba mẹ của tôi cũng đã từng giải quyết như vậy. Họ noí, "Con trông có vẻ khỏe lắm, có vẻ tốt lắm, như vậy là con không có vấn đề gì."


        Một ví dụ rõ hơn về tội từ chối này được tìm thấy trong cuốn phim "Trong cuộc truy tìm Holy Grail" của Monty Python. Ở một hồi cảnh, nhà Vua Arthur cỡi ngựa vào khu rừng, và bất ngờ gặp tên hiệp sĩ mặc giáp đen. Tên hiệp sĩ đón đường nhà Vua, và như vậy Vua Arthur thấy mình không thể đi qua được nếu mình thua trận với tên hiệp sĩ này. Và rồi cuộc chiến xảy ra và Vua Arthur đã chém đứt cánh tay của tên hiệp sĩ da đen này. Vua Arthur hạ gươm vào vỏ, cuối đầu và dắt bộ qua, nhưng tên hiệp sĩ nói, "Không được đi!" Nhà vua Arthur nói, "Ta đã chém đứt cánh tay mày rồi!" Tên hiệp sĩ nhìn vào cánh tay bị chém đứt, nói, "Không! Không được đi!" Vì vậy Vua Arthur nhìn xuống đất và nói, "Cánh tay mày ở đằng kia kìa!" Và tên hiệp sĩ nói, "Đó chỉ là vết thương thể xác." Vua Arthur nghĩ rằng mình cần làm cho gã này bị tàn tật thật là nặng mới đi qua được. Và như vậy cuộc chiến tiếp tục và Vua Arthur chém đứt tất cả tứ chi của tên hiệp sĩ này cho đến lúc chỉ còn lại thân hình với cái đầu trên mặt đất. Khi Vua Arthur cưỡi ngựa qua, bạn chỉ có thể nghe tên hiệp sĩ kêu gào thật đau đớn, "Đồ hèn, hãy trở lại đây, ta sẽ cắn đứt đầu gối mày ra!"    Ồ, không cần phải nói, tên hiệp sĩ này đang từ chối. Anh ta không thể đối diện với sự việc là mình đa õbại trận. Và mặc dù đây chỉ là ví dụ khôi hài về bài học từ chối, nhưng những nguy hiểm của nó rất và rất thật. Nếu tôi tiếp tục từ chối mình bị nhiễm HIV, tôi có thể không làm theo những lời đề phòng đáng cân nhắc bằng những vết cắt rất nhỏ trên các ngón tay của mình, hoặc những việc tương tự như vậy, và tôi cũng có thể làm cho người nào đo ùđau đớn hoặc là giết hại người. Nhưng bản thân bạn cũng gặp phải những nguy hiểm khi bạn từ chối một điều gì đo ù rất là nguy hiểm và rất đau đớn. Khi bạn muốn đẩy một điều gì đó trong một thời gian khá lâu, rồi cố giả vờ không có điều gì xảy ra, thì bạn không tránh khỏi những nguy hiểm. Và cuối cùng nó sẽ bùng nổ.    Tôi có thể từ chối mình là nạn nhân HIV gần suốt ba năm. Tuy nhiên, khi tôi vào năm thứ tư cấp trung học, tôi rất là yếu. Những triệu chứng của căn bệnh bắt đầu lộ ra. Những tế bào hình T là những bạch huyết cầu kháng sinh với tình trạng nhiễm trùng, và bạn sẽ biết bạn là nạn nhân HIV hay là nạn nhân AIDS là do số tế bào hình T trong cơ thể bạn. Khi số tế bào hình T giảm dưới 200, thì AIDS đang phát triển rất mạnh trong bạn. Và rồi, số tế bào hình T của tôi là 213 và đang giảm dần. Tôi yếu hẳn đi, và rất xanh xao, và tôi không thể tiếp tục ăn uống gì được. Tôi không còn giả vờ là mình không có HIV bởi vì nó lộ ra rất thật, rất thật.    Từ chối không còn là một sự chọn lựa, vì vậy tôi tìm một phương pháp mới để giải quyết mọi điều mà mình đang trải qua. Điều đầu tiên là tôi muốn chửi rủa người nào đó. Tôi nghĩ mình sẽ tốt hơn nếu một ai đó bước đến gần mình và nói, "Này, Steve, mình (tôi) lấy làm tiếc vì đó là lỗi bạn." Vì vậy đầu tiên tôi quyết định chửi bới toàn bộ những người mắc phải bệnh đồng tình luyến ái. Thật là dễ dàng qúa. Nhưng sau khi tôi nghĩ về điều đó, tôi nhận ra rằng mình thật là ngốc chỉ vì vấn đề của mình, mà phải chửi rủa toàn nhóm người đó. Sau đó, tôi quyết định nguyền rủa Đức Chúa Trời. Thật sự lúc này tôi chưa tin Đức Chúa Trời, nhưng tôi hình dung là có ai đó đang kiểm soát tình trạng bệnh hoạn của mình, thì chỉ có Đức Chúa Trời. Vì vậy, tôi nguyền rủa Đức Chúa Trời.    Khi trong thân thể bạn có một chỗ nào đó bị đau, thật là đau, thì bạn thường tỏ ra giận dữ. Và cuối cùng nổi cơn thịnh nộ. Bây giờ, tôi điên đầu khi giải quyết những vấn đề của mình. Bất cứ lúc nào ai đó nói điều gì làm cho tôi khó chịu, tôi nổi khùng với họ. Đấm tường. Phá nhà, phá cửa. Những việc đại khái như vậy.Nhưng tôi thấy giận giữ chỉ làm cho mình thêm phiền hơn, điều đó sẽ khiến bạn hành động không có lý trí chút nào. Tồi tệ hơn nữa, suốt qúa trình hỗn loạn đó, bạn cũng gây tổn thương đến những người thân của mình. Tốt hơn là kêu khóc khi giải quyết những vấn đề của mình, vì sẽ không làm hại ai, và cảm thấy thoải mái hơn.    Và rồi, có lần tôi ở trong phòng và lúc tôi ở giai đoạn cuối của căn bệnh. Tôi rất yếu và mất hết trọng lượng. Tôi kêu gào, vừa đấm tường vừa thề rủa Đức Chúa Trời, và rồi ba tôi bước vào. Ông đóng cửa lại. Ba tôi là kẻ cai nghiện rượu. Qua AA ông biết được quyền lực cao tay hơn, ông đã học biết Đức Chúa Trời. Cha tôi nhìn tôi rồi nói, "Ba biết con, Steve à, ba không thể giúp được gì cho con. Các bác sĩ của con không thể giúp con được. Mẹ của con không thể giúp con. Con cũng không thể giúp chính con được. Một Đấng duy nhất có thể giúp con ngay lúc này là Đức Chúa Trời." Và ông ra khỏi phòng, đóng cửa lại.Bây giờ, tôi hết nguyền rủa Đức Chúa Trời, và tôi cũng không nghĩ mình là hoàn toàn tốt để kêu xin Ngài giúp đỡ. Nhưng tôi không còn một lựa chọn nào khác. Tôi qùy gối, rồi khóc và thưa với Chúa, "Lạy Chúa, nếu Ngài ở đó, xin Ngài giúp con, thì con sẽ giúp Ngài." Ồ, trong chốc lát, tôi lấy lại toàn bộ trọng lượng. Số tế bào hình T nhảy lên khoảng 365, thật là tốt. Và tôi cảm thấy khỏe. Tôi cảm thấy mạnh y hệt như vậy đó. Và tôi suy nghĩ, "Được lắm, cám ơn Đức Chúa Trời. Tạm biệt Ngài. Thật là tốt. Tạm biệt."    Tốt nghiệp trung học xong, tôi vào trường cao đẳng thi chuyển cấp vào mùa hè trước năm thứ nhất. Đây cũng chính là lúc tôi gặp bạn cùng phòng với tôi. Tôi đến đó và hoàn tất kỳ thi, và rồi gặp cậu bé có dáng người cao ráo, có nước da đỏ hung. Cậu bé nói, "Chào, bạn trông có vẻ bình thường đó chứ. Có muốn làm bạn cùng phòng với tôi không?" Và rồi tôi suy nghĩ, được thôi, nhưng bạn không được ."Hãy nhớ là ." Chúng tôi về cùng phòng, thật vậy chúng tôi thân nhau lắm. Tôi phát hiện bạn cùng phòng với tôi là Cơ Đốc Nhân. Đối với tôi, Cơ Đốc Nhân là đạo đức giả, hay chỉ trích, và hay chiếu cố. Đó là những gì tôi cho là Cơ đốc nhân. Nhưng bạn cùng phòng với tôi thì khác.Bạn tôi khó có thể đọc sách. Tôi để ý khi cậu ta ngồi học và rồi bước đến chỗ gây khó chịu -- chỗ mà tôi đấm tường và phá hủy đồ đạccậu ta chỉ dừng lại, nhắm mắt, cầu nguyện, và hít một hơi, rồi trở về chỗ học. Điều đó đã làm tôi dịu hẳn đi. Tôi ngẫm nghĩ, "làm sao mày không phá vỡ một cái gì đó? Mày phải đập vỡ cái gì đo ùchứ!" Tôi ngạc nhiên là cậu ta có thể làm được điều này.    Vào kỳ nghỉ xuân, bạn cùng phòng với tôi mời tôi đi nghỉ tại bờ biển Daytona. Khi đến đó, bạn tôi bắt đầu nói chuyện với một gã bên cạnh chúng tôi tại bờ biển. Lúc đầu, chúng tôi chỉ nói những chuyện lặt vặt, rất bình thường. Sau đo ùbạn tôi đi vào những vấn đề sâu hơn, mang tính nặng nề hơn. Tôi không muốn xen vào những chuyện đó. Tôi đã đauá tranh rất nhiều. Thật là ngoan cố khi bạn biết mình sắp chết ở cái tuổi thanh niên như vậy. Và tôi thật sự không muốn nói chuyện với gã thanh niên lạ mặt ở bờ biển, vì vậy tôi rút lui. Họ vẫn tiếp tục nói, và cuối cùng, là một Cơ Đốc Nhân bạn tôi cố giải thích mình tin cái gì. Tôi luôn mang hình ảnh về một Cơ Đốc Nhân là gì, nhưng không bao giờ biết họ tin hay suy nghĩ điều gì. Vì vậy, tôi lắng nghe những gì bạn tôi nói.    Tôi không biết tôi có thể giải thích đầy đủ như bạn tôi không, nhưng cậu ta nói cái gì đo ùnhư thế này, "Rõ ràng, tôi tin Đức Chúa Trời. Và tôi tin Đức Chúa Trời tạo nên chúng ta trong mối liên hiệp với Ngài. Nhưng chúng ta không muốn ở trong mối liên hiệp với Ngài, vì vậy chúng ta đẩy Ngài ra khỏi cuộc đời mình. Đẩy Đức Chúa Trời ra khỏi, đo ùlà phản loạn --tích cực hay tiêu cực phản loạn, chống lại Đức Chúa Trời -- theo lời Kinh Thánh đó là tội lỗi. Tôi không thích từ "tội lỗi", vì vậy tôi nghĩ tội lỗi là đẩy Đức Chúa Trời ra khỏi. Bởi chúng ta được tạo dựng trong mối liên hệ với Ngài, và vì chúng ta đã đẩy Ngài ra khỏi cuộc đời mình, thì chúng ta phải bị phạt. Hình phạt vì tội phản loạn với Đức Chúa Trời là sự chết, nghĩa là chúng ta đáng chết. Và có cái chết tinh thần, đó là chúng ta sẽ xa cách Đức Chúa Trời. Tôi nghĩ, ồ thật là vui qúa.    Vì vậy, tôi nói, "Nhưng Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta." Và bạn tôi trả lời, "Nhưng Đức Chúa Trời cũng rất công bình. Tình yêu thương không công bình thì không có nghĩa gì hết." Điều đo ùthật sự làm cho tôi suy nghĩ. Vì vậy bạn tôi nói, "Hãy tưởng tượng xem người mà bạn chăm sóc nhiều nhất trên thế giới, người mà ngay tức khắt cho bạn cả một cuộc đời. Rồi thử tưởng tượng chính bạn lại xua đuổi người đó, không gặp lại trong thời gian khá lâu. Rồi một ngày kia, bạn gặp người đó cách xa 50 thươcù, bạn chạy đến, giang rộng đôi tay mình ra, nhưng bạn dừng lại và nói: "Không mày đã đayå tôi ra khỏi rồi, có nhớ không?" Bây giờ thử tưởng tượng bạn đayå Đức Chúa Trời, tình yêu cao cả nhất trên thế gian này ra khỏi cuộc đời mình."Rồi tôi nghĩ, "Chà, như vậy không ổn rồi." Nhưng bạn tôi nói, "Ồ, may thay, không thể kết thúc ở đayâ." Vì Đức Chúa Trời rất yêu chúng ta, chăm sóc chúng ta chu đaó, Ngài quyết định đền tội thay cho chúng ta. Đức Chúa Trời đã sai Con Một của Ngài, là Đức Chúa Giê Xu, chết trên thập tự giá thế cho chúng ta. Và vì Chúa Giê Xu (là Đức Chúa Trời khi sống trong xác thịt), đã không có tội, nên Ngài có thể đêàn tội cho người khác. Ngài đã đền tội thế cho chúng ta."Và bạn tôi nói tiếp, "Rồi sau ba ngày Chúa Giê Xu từ kẻ chết sống lại. Ngài đã đắc thắng tử thần và ban cho chúng ta sự sống đời đời. Bây giờ, chúng ta không chết, nhưng lúc đó hưởng sự sống vĩnh cửu với Đức Chúa Trời, tình yêu cao cả nhất trên thế gian này."    Rồi tôi nói, "ối chà." Bạn tôi nói, "Điều đáng lưu tâm ở đây là, cho dù Ngài ban cho chúng ta sự sống đời đời, và đền tội thế cho chúng ta, nhưng nếu bạn không chấp nhận ., thì đó là tùy bạn." Tôi vẫn chưa rõ điều này, và thật may cho tôi, gã thanh niên nọ cũng không hiểu. Vì vậy, bạn tôi nói, "Được rồi, như vậy thì bạn thử tưởng tượng lái xe xuống đường. Bạn cho xe chạy 90 mph, trong khi hạn chế tốc độ là 35. Bạn đang bay xuống đường, cảnh sát thổi còi gọi bạn lại bên lề đường và viết giấy phạt. Để trả tiền phạt, ngày hôm sau bạn phải đená toà án. Khi bạn vào phòng xử án, nhìn lên, bạn thấy ông thẩm phán là cha của bạn. Và bạn nghĩ, ô hay, đó là ba của tôi. Cha của bạn nhìn bạn và noí, "Steve, con phạm luật hả?" Và rồi bạn trả lời, "Dạ." Vì vậy ông ta noí, "Được, phạt $500 hay ngồi tù hai ngày! Ông ta gõ búa và như vậy là đủ."Bây giờ, vì ông công bình, ông phải thi hành án phạt. Nhưng lúc đó ông bước ra khỏi ghế thẩm phán, cởi áo choàng, lấy $500 trong túi ra và đưa cho bạn. Vì ông yêu thương bạn, ông trả tiền phạt cho bạn. Và bạn phải chấp nhận sự trả thay đó. Ông đứng vào chỗ của bạn cầm trong tay $500, nói "Con đi đi." Cũng vậy, với Đức Chúa Trời bạn có thể nói, "Không, con chỉ trải qua thời gian sống đời đời xa lìa Ngài" Đó là sự chọn lựa của con.    Bạn tôi bày tỏ cho chúng tôi cách chấp nhận sự đền tội thế bằng cách cầu nguyện. Cậu ta nói, "Chỉ cần bạn chấp nhận sự đền tội thế của Đức Chúa Trời. Đó là Hồng Aân của Ngài ban cho chúng ta. Bạn không cần phải làm điều gì để lãnh hồng ân đó. Đó là món qùa mà Đức Chúa Trời ban cho bạn." Đây là lần đầu tiên tôi nghe về hồng ân. Bạn tôi nói, "Đó là món qùa mà bạn chấp nhận bằng đức tin bằng cách cầu nguyện." Và bạn tôi ngỏ ý cầu nguyện với gã thanh niên lạ mặt. Trong lúc cậu ta cầu nguyện to, tôi cũng cầu nguyện, nhưng yên lặng.    Từ giây phút đó trở đi, cuộc đời tôi mang niềm tin hoàn toàn mới mẻ. Mỗi đêm tôi đi ngủ, không còn phải lo lắng ngày mai mình có còn sống không. Tôi không còn sợ chết nữa, vì chết không kết thúc trong đêm tối. Bây giờ khi tôi chết tôi sẽ được sống đời đời, kiếp kiếp với Đức Chúa Trời, tình yêu cao cả nhất trên thế gian này. Thật là mãn nguyện.Cha mẹ tôi cũng đã từng chấp nhận sự đền tội thế này. Họ cũng cầu nguyện với Đức Chúa Trời như tôi đã làm. Và đời sống họ cũng mang một niềm tin hoàn toàn mới mẻ. Thật đanùg ngạc nhiên khi suy nghĩ rằng họ để tôi đi đây đó, vì họ biết tôi chỉ còn sống trong 6 tháng nữa thôi. Bạn có thể tưởng tượng thật khó khăn cho họ đứng khoanh tay nhìn con trai mình chết trước mặt. Họ không thể làm điều gì được. Nhưng bây giờ, lý do duy nhất mà họ có thể làm, và lý do duy nhất mà tôi có thể bày tỏ là mỗi người chúng ta cần có Đức Chúa Giê Xu Christ trong đời sống chúng ta.    Tôi xin phép tạo cho bạn một cơ hội chấp nhận sự đền tội thế cho bạn. Nếu bạn có cách chữa AIDS, tôi chắc rằng bạn sẽ giúp tôi. Tôi biết con đường đến sự sống đời đời, đo ùlà món quà Đức Chúa Trời ban cho bạn. Vì vậy, tôi muốn nói với bạn điều này: Nếu bạn đang gặp phải một nan đề bạn không thể giải quyết được, và bạn cần người nào đo ùủng hộ và tiếp đonù bạn khi cả thế gian này xua đuổi bạn và đẩy bạn ra sau lưng, thì bạn hãy cầu nguyện với tôi ngay thì giờ này. Đây không phải là một lời nói huyền thoại hay câu thần chú nào đó. Và đây cũng không phải là một suy nghĩ xúc cảm. Nhưng hơn thế nữa là được kết hiệp với Đức Chúa Trời. Và y như bất cứ một mối liên kết nào, cũng cần có thời gian. Cần có nổ lực. Nhưng tôi giục bạn: nếu bạn thật sự cảm thấy cần điều này, đừng bỏ qua cơ hội. Bạn tự do để làm điều này.    Vì vậy, tôi cầu nguyện. Cầu nguyện không phải là điều gì đó như là nhắm mắt hay cuối đauà hay khoanh tay hay kêu lên "Halêlugia." Không phải như thế. Đó là thái độ phát ra từ tấm lòng. Cầu nguyện là nói chuyện cùng Đức Chúa Trời, "Lạy Đức Chúa Trời, con đã phạm luật. Con đã đẩy Ngài ra khỏi cuộc đời con. Và thì giờ này con muốn trở về chấp nhận sự đenà tội thay của Ngài." Nếu bạn cảm thấy cần, hãy cầu nguyện như thế này ngay thì giờ này. "Kính lạy Chúa Giê Xu Christ yêu dấu của con, Con cần đến Ngài. Con cám ơn Ngài vì Ngài đã chết thế cho con trên thập tự giá. Con xin Ngài ngự vào lòng con và biến đổi con trở nên con người Chúa muốn. Amen.    Bây giờ, nếu bạn chân thành cầu nguyện, bạn sẽ bắt đầu bước vào mối tương giao mật thiết và gần guĩ nhất mà bạn chưa bao giờ cảm nhận được -- mối tương giao với Đức Chúa Trời. Và điều đó cũng không phải dừng lại chỉ bằng lời cầu nguyện. Nhưng mối liên hiệp với Đức Chúa Trời là một qúa trình. Điều này có nghĩa rằng mỗi ngày bạn phải tin cậy Đức Chúa Trời, không nhất thiết làm điều gì mà bạn muốn hay bạn cho là tốt, nhưng làm những gì bạn suy nghĩ Đức Chúa Trời muốn bạn làm. Tôi nghe người ta nói với tôi, "Cơ Đốc Giáo làm việc thiện cho bạn và điều đó thật là tuyệt vời." Những tôn giáo khác không làm việc thiện cho kẻ khác sao? Đó là một hỏi hay. Tôi tin Đức Chúa Trời cho chúng ta một con đường đến với Ngài -- qua sự chết của Đức Chúa Giê Xu trên thập tự giá -- cho dù có một yếu tố lẽ thật trong những tôn giáo khác. Đó chỉ là luân lý đạo đức --"Hãy làm điều này bảy lần một ngày và như vậy bạn sẽ đến gần Đức Chúa Trời." Nhưng nếu bạn cố làm việc hướng về Đức Chúa Trời, thì bao nhiêu công việc cho đủ?. Làm sao bạn biết được mình làm đủ để đạt tới đích?.    Tôi suy nghĩ Cơ Đốc Giáo tìm thấy chân lý ở đâu: Chỉ trong hồng ân của Đức Chúa Trời. Chúng ta biết rằng chúng ta không bao giờ đạt đến sự trọn vẹn, chúng ta cần cậy vào ơn thứ tha của Đức Chúa Trời. Mục tiêu là chúng ta bước theo đường lối ý chỉ của Ngài, cho dù chúng ta nhiều lần chạy quanh co. Bạn lầm lỗi, nhưng bạn cứ tiếp tục đi theo đường lối của Ngài. Bạn cứ làm việc hướng về ý chỉ của Ngài, tin cậy trong ơn điển của Đức Chúa Trời. Bạn cầu nguyện. Bạn đọc Kinh Thánh. Bạn sẽ thấy Đức Chúa Trời cần bạn điều gì. Một ngày nào đó, bạn sẽ cảm nhận được sự bình an. Mãi cho đến lúc bạn được lên Thiên Đàng, mà điều đo ù chưa thực hiện được, nhưng nó còn đời đời.Steve Sawyer chết vì bệnh gan hoá vào ngày 13-3-1999. Anh đã trải qua những năm tháng còn lại của mình đến thăm hàng trăm trường cao đẳng, cho dù việc đi lại đã làm cho anh đau đớn gấp bội phần. Vào những ngày cuối cùng của đời mình, Steve nói rằng anh muốn nói "thêm một trường nữa." Tại sao vậy? "Nếu tôi đã gặp phải căn bệnh này đã giết đời tôi mà hiểu được rằng cần phải liên hiệp với Đức Chúa Trời, thì thật xứng đáng. Trong niềm tin để nhận được sự sống đời đời, đó là tất cả những gì tôi muốn nói."


    Lời Kinh Thánh có chép:
    "Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Đức Giê Hô Va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên Người" (Ê sai. 53:6).

    "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời" (Giăng 3: 16).

    "Qủa thật, qủa thật Ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời Ta mà tin Đấng đã sai Ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống" (John 5:24).

    "Hỡi sự chết, sự thắng của mày ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mày ở đâu?" (I Côrinhtô. 15: 55).

    0 nhận xét:


    “Người sống như một đống vàng” là một trong những câu nói mà người Việt thường dùng để đề cao giá trị quý báu vô cùng của đời sống chúng ta, giàu cũng như nghèo. Chúng ta có thể sống đến trăm năm nhưng ngoảnh lại, nhiều người lại than “Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy!” 

    Có một câu chuyện khoa học giả tưởng nói đến một cuộc sống trong tương lai khi y học tiến bộ đến mức có thể ngăn ngừa tất cả các chứng bệnh và người ta có thể sống mãi mãi, không chết. Nhưng tác giả của chuyện này lại cho là con người lúc ấy không muốn sống đến muôn đời, nhiều người tự hủy mình đi vì chán nản.
    Ðời sống của những cây cỏ, sinh vật chung quanh chúng ta dài hay ngắn tùy theo loài. Từ những cây cổ thụ sống hằng ngàn năm, đến các giống ruồi, ve sầu hay các vi sinh vật khác, chúng chỉ sống được vài tuần, vài ngày hoặc vài giờ mà thôi. Trong những giây phút quý giá và ngắn ngủi của cuộc sống đó, các sinh vật này cũng phải trải qua các giai đoạn tăng trưởng, sinh nở, già yếu và cuối cùng là sự chết như chúng ta. Khi nhìn vào một giọt nước hồ ao qua kính hiển vi, chúng ta có thể thấy những sinh vật li ti chạy qua chạy lại, lăng xăng đây đó dường như không có mục tiêu chi hết, tuy vậy các nhà sinh vật học cũng có thể chứng minh rằng những sinh vật này, dầu là đơn bào, nhỏ bé, cũng có khả năng di chuyển và chúng nó thường tìm đến những môi trường có nhiều thức ăn và lại lánh xa những nơi có hại cho đời sống. Có lẽ chúng nó cũng “vui” trong những hoàn cảnh thuận lợi và “buồn” hay “lo sợ” khi phải đương đầu với tình trạng khó khăn, nguy hiểm như chúng ta không chừng.
    Trong cuộc sống, hầu hết chúng ta đều muốn tìm mọi cách để làm cho mình hưỡng được một đời sống dài hơn, tốt đẹp hơn bằng cách ăn ngủ điều độ, vận động, tập thể thao, đi khám bác sĩ để chữa bệnh, để ngừa bệnh… Hiện nay có nhiều người ký giao kèo với những công ty chuyên giữ xác chết nơi cực lạnh với hy vọng trong tương lai, khi khoa học tiến bộ đến mức có thể làm cho những “xác chết” này sống lại và chữa các bệnh tật hay nguyên nhân đã làm cho họ qua đời. Vì thế những người nầy có thể hưởng được thêm một đời sống nữa, trong xã hội văn minh gấp bội, giống như mơ ước của các vua chúa Ai Cập thuở xưa khi họ ướp xác mình với sự tin tưởng rằng họ sẽ sống lại trong tương lai. Thử hỏi nếu những người này được sống lại, họ sẽ nghĩ gì về xã hội mới? Vì chúng ta không biết được tương lai nên không thể tìm hiểu được phản ứng của người bây giờ về sự sống lại của họ vài chục năm sau hay vài trăm năm sau, nhưng chúng ta có thể đoán được tình trạng của những vua chúa Ai Cập nếu họ được sống lại trong xã hội ngày nay: Trước hết những “vì vua” này phải biết là họ không còn ngai vàng, kẻ hầu người hạ, quân binh kỵ mã như thuở trước nữa. Ngôn ngữ, tôn giáo cũng khác lạ, tiền bạc cũng không, vàng bạc ngọc ngà đã bị cướp mất hết… Chắc có lẽ là họ sẽ đổi ý và cho là chết đi thì tốt hơn!
    Cũng có người muốn làm cho đời sống mình có nhiều ý nghĩa hơn bằng cách bõ công bõ của giúp những người khác trong cơn hoạn nạn đói khổ, cố gắng làm lành lánh dữ, diệt dục… để được lưu truyền tiếng tốt, để phước lại cho con cháu, để kiếp sau được hạnh phúc hơn hoặc được vào nước thiên đàng hay cõi niết bàng là nơi sẽ không có sự đau khổ, bất công, lo âu và bệnh tật.
    Có người lại dửng dưng, không ham sống hay muốn tự hủy hoại đời mình, tự dấn thân vào con đường nghiện ngập, chơi bời làm hại sức khỏe. Khi nhà bác học Einstein được bác sĩ cho biết là ông bị bệnh phình mạch máu trên đầu và đề nghị ông nên chữa trị bằng cách giải phẫu, ông nhất định từ chối và cuối cùng đã qua đời vì bị vỡ mạch máu não, biến chứng của bệnh trên. Tại sao ông lại không muốn được sống thêm nữa? Chỉ ông mới có thể trả lời câu hỏi nầy. Có thể là ông cho rằng sống thêm vài năm nữa cũng chẳng mang ích lợi chi khi thành quả của ông trong quá khứ đã làm tên tuổi của ông lưu truyền mãi mãi và sau khi chết ông sẽ đến một nơi vĩnh cửu hơn thế gian tạm bợ này. Cùng một quan điểm như trên, một khoa học gia nổi tiếng khác đã nói: “con người chỉ là những hành khách trên quả địa cầu này”. Ðiều nầy có nghĩa là mỗi người, dầu muốn dầu không, đều có lúc phải từ giả cuộc sống trên dương trần để đi đến một nơi khác. Trái đất chúng ta đang ở cũng ví như một chuyến xe đò và thời gian vài tiếng đồng hồ trên xe đó là cả một cuộc sống của chúng ta. Ðến một lúc nào đó, mọi người phải rời xe ấy. Chỉ có một điều khác biệt là chúng ta mua vé về đâu? Về một quê hương có mái ấm gia đình hạnh phúc hay đến một nơi đầy khói lửa, chết chóc, tang thương? Cũng vậy, nếu có lúc chúng ta chào đời thì cũng có lúc chúng ta ra đi giã từ dương thế để chúng ta đến một nơi nào đó, một nơi không ai biết được sẽ như thế nào.
    Trong chuyện Shogun vào thời loạn các sứ quân bên Nhật, có nhiều người bị bắt nhốt trong một nhà tù chật hẹp. Lúc ấy họ không biết mình bị tù vì lý do gì, sẽ bị giam giữ bao lâu. Cứ thỉnh thoảng có người bị gọi ra khỏi ngục mà không thấy trở về. Không hiểu họ được phóng thích hay bị bắt ra xử tử. Có người bị kêu ra để tra khảo, đánh đập mềm xương rồi được khiêng về. Tình trạng thê thảm đó diễn ra hằng ngày, tâm trạng những tù nhân này thật đáng thương, tương lai sẽ ra sao, không ai có thể tiên đoán được. Những tù nhân này mỗi ngày được phát cho một phần ăn, có lẽ đủ dùng cho một số người, nhưng lại thiếu thốn cho những người khác. Thay vì giúp đỡ cho nhau, đùm bọc lẫn nhau, họ lại tranh dành với nhau từ miếng ăn đến chỗ ở. Làm sao cho no ấm, không cần biết đến ngày mai. Làm sao cho các tù nhân khác nể mình, tôn mình lên làm đàng anh hay người lãnh đạo để được thỏa mãn về vật chất, tự ái tạm thời… Chắc có lẽ họ quen nếp sống như vậy, họ thích những vật chất tạm bợ mà quên đi là nơi ấy không phải chỗ ở vĩnh viễn của mình. Nếu ở trong hoàn cảnh đó, chúng ta chắc phải tìm mọi cách để tiếp xúc với bên ngoài, tìm mọi cách để mình được thả ra, mong có ngày được thoát khỏi cảnh tù tội để được về đoàn tụ vui vẻ với gia đình.
    Có người ví đời sống của chúng ta giống như một giòng sông, bắt đầu bằng những hạt sương, hạt tuyết, giọt mưa rơi trên lá cành. Từ những lượng nước nhỏ nhoi đó, các rạch nước, suối nước được thành hình trên những vùng cao nguyên. Các mạch nước nhỏ này sẽ hợp lại với nhau để tạo nên những thác nước, những khúc sông cuồng bạo nguy hiểm. Sau đó đến một giòng sông trầm lặng nhưng mãnh liệt, giòng sông có khả năng đổi hướng, chuyển đất nơi này bồi đắp chổ kia, biến vũng lầy thành đất phù sa, lấn chiếm cả đại dương và cuối cùng trở về biến mất vào lòng biển bao la, là nơi khởi thủy, là nơi mà hơi nước bắt nguồn để tạo thành các hạt tuyết, giọt mưa và chu kỳ cứ tiếp diễn.
    Mỗi người trong chúng ta có một đời sống, một cá tính riêng. Khi còn nhỏ, chúng ta nhờ ơn cha mẹ dạy dỗ, rút lấy các kinh nghiệm chung quanh, lần lần tạo ra bản tính cá nhân của mình. Như dòng sông, khi còn trẻ, chúng ta có khuynh hướng tìm về những việc có tính cách táo bạo, mãnh liệt, nguy hiểm, tạm thời, lắm lúc thiếu suy nghĩ có thể đưa cuộc sống vào nơi bế tắc. Nhưng đến lúc trưởng thành, sau khi công thành danh toại, nhìn lại khoản thời gian qua, chúng ta tự hỏi mục tiêu và ý nghĩa của cuộc sống chúng ta là gì? Vì thế nhiều người bắt đầu hướng về tôn giáo, lo việc từ thiện và ước ao một quê hương tốt đẹp hơn. Tại sao chúng ta lại không nghĩ đến việc trên khi còn trẻ, hay ngay bây giờ? Một mai nếu có chi bất trắc xảy ra trong cuộc sống, chúng ta sẽ bị mất đi cơ hội độc nhất rất là quý báu này.
    Kinh Thánh có chép: “… nhưng anh em chẳng biết ngày mai sẽ ra thế nào! sự sống của anh em là chi? nó chẳng khác gì hơi nước, hiện ra trong chốc lát rồi lại tan mất” (theo Gia-cơ 4:14). Nếu cô đọng đời sống của chúng ta lại chỉ còn trong một vài ngày hay một vài giờ, chúng ta sẽ thấy cuộc sống ngắn ngủi này cũng tương tự như đời sống của các vi sinh vật đơn bào mà chúng ta đã nhìn thấy qua kính hiển vi “lăng xăng đây đó dường như không có mục tiêu gì!” Những sinh vật đơn bào này không chết hẳn, khi đến “tuổi già nua” thì chúng nó “chết” đi bằng cách chia đôi, thành hai tế bào con, mới và trẻ trung hơn. Trong khi đó thì con người sẽ về một thế giới khác. Bạn có chuẩn bị cho cuộc hành trình này chưa? Hay là bạn cũng giống như những tù nhân trong thời loạn các sứ quân bên nước Nhật ngày xưa, mặc kệ cho số phần đưa đẩy tới đâu cũng được. Như một khách lữ hành, bạn có biết là mình mua vé xe về đâu hay không? Hay bạn sẽ nói với ông tài xế xe đò rằng: “Ông ơi! ông cho tôi được ở trên xe ông càng lâu càng tốt”. Hay là: “Ông cho tôi xuống chỗ nào cũng được, vì tôi không biết mình sẽ đi về đâu, quê hương ấm cúng và gia đình hạnh phúc là những điều quá xa vời mà tôi không bao giờ mơ ước và đạt đến được”.
    Như Einstein và khoa học gia nổi tiếng ở trên, Kinh Thánh có nói đến “Những người… xưng mình là kẻ khách và bộ hành trên đất. Những kẻ nói như thế, tỏ rõ rằng mình đang đi tìm một quê hương. Ví thử họ đã tưởng đến nơi quê hương mà mình từ đó đi ra (nơi chôn nhao cắt rún), thì cũng có ngày trở lại, nhưng họ ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời…” (theo sách Hê-bơ-rơ 11:13-16).
    Ðức Chúa Giê-xu phán rằng “Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở. Nếu không thì ta đã nói cho các con biết rồi. Ta đi để chuẩn bị chỗ ở cho các con. Sau khi ta đi và chuẩn bị chỗ ở cho các con rồi thì ta sẽ trở lại đón các con đi để hễ ta ở đâu thì các con cũng ở đó.” (Giăng 14:3). “Trời kêu ai nấy dạ”, sau tiếng dạ đó thì như thế nào? Có bao giờ bạn mơ ước đến một quê hương trên trời? một chỗ ở trong nhà của người Cha thiên thượng? Làm sao có thể đến nơi Đức Chúa Giê-xu sắm sẵn cho chúng ta như Ngài đã nói? Kinh Thánh chép Đức Chúa Giê-xu là con đường duy nhất để chúng ta có thể đến quê hương tốt đẹp ở trên trời, chỉ có Ngài mới nói rằng “Ta là đường đi, lẽ thật (chân lý) và sự sống, chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Đức Chúa Trời” theo sách Giăng 14:6. Thánh Giăng Báp-tít cũng đã quả quyết là: “Ai tin Ðức Chúa Giê-xu thì được sự sống đời đời, ai không chịu tin Ngài thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng hình phạt của Thượng Đế vẫn ở trên người đó” (theo Phúc Âm Giăng 3:36).
    Mong bạn đặt niềm tin vào Ðức Chúa Giê-xu để lấy một vé xe về nơi mà Ngài đã dành sẵn cho, để được về quê hương tốt đẹp nhất trên trời. Chẳng những Ngài muốn chúng ta được lên thiên đàng sống đời đời với Ngài, mà Ngài còn chỉ cho chúng ta con đường để đến nơi ấy bằng cách hy sinh chính mạng sống của Ngài để cứu chuộc tội lỗi chúng ta, để tạo một nhịp cầu nối liền loài người với Thượng Ðế. Ngài như một người chăn chiên hiền lành không ngại hiểm nguy vượt suối, trèo non để tìm những chiên con lạc mất như chúng ta, chúng ta hãy nghe tiếng Ngài.
    Nếu bạn cảm thấy có sự thúc giục trong lòng, muốn tin nhận Chúa Giê-xu, muốn được sự sống trường cửu mà Ngài hứa sẽ ban cho, xin mời bạn lập lại những lời cầu nguyện sau đây:
    “Kính lạy Ðức Chúa Trời là Ðấng yêu thương nhân loại, Ngài không muốn cho một người nào bị hư mất. Con xin Ngài tha thứ tội lỗi của con, ghi tên con vào sổ sự sống. Xin Ngài ngự vào lòng con, làm chủ cuộc đời của con và thay đổi tấm lòng con để cho con có một đời sống đầy ý nghĩa và được xứng đáng làm một công dân nước Trời. Con xin thành kính cám ơn Chúa và cầu nguyện trong Danh Cứu Chúa Giê-xu, A-men.”
    Nếu muốn tìm hiểu thêm hoặc muốn có các tài liệu khác về lẽ đạo, xin bạn liên lạc với các nhà thờ Tin Lành địa phương của bạn. 
    Tác giả : Bác Sỉ Phạm Quang Trọng

    Ý Nghĩa Của Ðời Sống

    Posted at  03:51:00  |  in  Ý Nghĩa Cuộc Sống  |  Read More»


    “Người sống như một đống vàng” là một trong những câu nói mà người Việt thường dùng để đề cao giá trị quý báu vô cùng của đời sống chúng ta, giàu cũng như nghèo. Chúng ta có thể sống đến trăm năm nhưng ngoảnh lại, nhiều người lại than “Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy!” 

    Có một câu chuyện khoa học giả tưởng nói đến một cuộc sống trong tương lai khi y học tiến bộ đến mức có thể ngăn ngừa tất cả các chứng bệnh và người ta có thể sống mãi mãi, không chết. Nhưng tác giả của chuyện này lại cho là con người lúc ấy không muốn sống đến muôn đời, nhiều người tự hủy mình đi vì chán nản.
    Ðời sống của những cây cỏ, sinh vật chung quanh chúng ta dài hay ngắn tùy theo loài. Từ những cây cổ thụ sống hằng ngàn năm, đến các giống ruồi, ve sầu hay các vi sinh vật khác, chúng chỉ sống được vài tuần, vài ngày hoặc vài giờ mà thôi. Trong những giây phút quý giá và ngắn ngủi của cuộc sống đó, các sinh vật này cũng phải trải qua các giai đoạn tăng trưởng, sinh nở, già yếu và cuối cùng là sự chết như chúng ta. Khi nhìn vào một giọt nước hồ ao qua kính hiển vi, chúng ta có thể thấy những sinh vật li ti chạy qua chạy lại, lăng xăng đây đó dường như không có mục tiêu chi hết, tuy vậy các nhà sinh vật học cũng có thể chứng minh rằng những sinh vật này, dầu là đơn bào, nhỏ bé, cũng có khả năng di chuyển và chúng nó thường tìm đến những môi trường có nhiều thức ăn và lại lánh xa những nơi có hại cho đời sống. Có lẽ chúng nó cũng “vui” trong những hoàn cảnh thuận lợi và “buồn” hay “lo sợ” khi phải đương đầu với tình trạng khó khăn, nguy hiểm như chúng ta không chừng.
    Trong cuộc sống, hầu hết chúng ta đều muốn tìm mọi cách để làm cho mình hưỡng được một đời sống dài hơn, tốt đẹp hơn bằng cách ăn ngủ điều độ, vận động, tập thể thao, đi khám bác sĩ để chữa bệnh, để ngừa bệnh… Hiện nay có nhiều người ký giao kèo với những công ty chuyên giữ xác chết nơi cực lạnh với hy vọng trong tương lai, khi khoa học tiến bộ đến mức có thể làm cho những “xác chết” này sống lại và chữa các bệnh tật hay nguyên nhân đã làm cho họ qua đời. Vì thế những người nầy có thể hưởng được thêm một đời sống nữa, trong xã hội văn minh gấp bội, giống như mơ ước của các vua chúa Ai Cập thuở xưa khi họ ướp xác mình với sự tin tưởng rằng họ sẽ sống lại trong tương lai. Thử hỏi nếu những người này được sống lại, họ sẽ nghĩ gì về xã hội mới? Vì chúng ta không biết được tương lai nên không thể tìm hiểu được phản ứng của người bây giờ về sự sống lại của họ vài chục năm sau hay vài trăm năm sau, nhưng chúng ta có thể đoán được tình trạng của những vua chúa Ai Cập nếu họ được sống lại trong xã hội ngày nay: Trước hết những “vì vua” này phải biết là họ không còn ngai vàng, kẻ hầu người hạ, quân binh kỵ mã như thuở trước nữa. Ngôn ngữ, tôn giáo cũng khác lạ, tiền bạc cũng không, vàng bạc ngọc ngà đã bị cướp mất hết… Chắc có lẽ là họ sẽ đổi ý và cho là chết đi thì tốt hơn!
    Cũng có người muốn làm cho đời sống mình có nhiều ý nghĩa hơn bằng cách bõ công bõ của giúp những người khác trong cơn hoạn nạn đói khổ, cố gắng làm lành lánh dữ, diệt dục… để được lưu truyền tiếng tốt, để phước lại cho con cháu, để kiếp sau được hạnh phúc hơn hoặc được vào nước thiên đàng hay cõi niết bàng là nơi sẽ không có sự đau khổ, bất công, lo âu và bệnh tật.
    Có người lại dửng dưng, không ham sống hay muốn tự hủy hoại đời mình, tự dấn thân vào con đường nghiện ngập, chơi bời làm hại sức khỏe. Khi nhà bác học Einstein được bác sĩ cho biết là ông bị bệnh phình mạch máu trên đầu và đề nghị ông nên chữa trị bằng cách giải phẫu, ông nhất định từ chối và cuối cùng đã qua đời vì bị vỡ mạch máu não, biến chứng của bệnh trên. Tại sao ông lại không muốn được sống thêm nữa? Chỉ ông mới có thể trả lời câu hỏi nầy. Có thể là ông cho rằng sống thêm vài năm nữa cũng chẳng mang ích lợi chi khi thành quả của ông trong quá khứ đã làm tên tuổi của ông lưu truyền mãi mãi và sau khi chết ông sẽ đến một nơi vĩnh cửu hơn thế gian tạm bợ này. Cùng một quan điểm như trên, một khoa học gia nổi tiếng khác đã nói: “con người chỉ là những hành khách trên quả địa cầu này”. Ðiều nầy có nghĩa là mỗi người, dầu muốn dầu không, đều có lúc phải từ giả cuộc sống trên dương trần để đi đến một nơi khác. Trái đất chúng ta đang ở cũng ví như một chuyến xe đò và thời gian vài tiếng đồng hồ trên xe đó là cả một cuộc sống của chúng ta. Ðến một lúc nào đó, mọi người phải rời xe ấy. Chỉ có một điều khác biệt là chúng ta mua vé về đâu? Về một quê hương có mái ấm gia đình hạnh phúc hay đến một nơi đầy khói lửa, chết chóc, tang thương? Cũng vậy, nếu có lúc chúng ta chào đời thì cũng có lúc chúng ta ra đi giã từ dương thế để chúng ta đến một nơi nào đó, một nơi không ai biết được sẽ như thế nào.
    Trong chuyện Shogun vào thời loạn các sứ quân bên Nhật, có nhiều người bị bắt nhốt trong một nhà tù chật hẹp. Lúc ấy họ không biết mình bị tù vì lý do gì, sẽ bị giam giữ bao lâu. Cứ thỉnh thoảng có người bị gọi ra khỏi ngục mà không thấy trở về. Không hiểu họ được phóng thích hay bị bắt ra xử tử. Có người bị kêu ra để tra khảo, đánh đập mềm xương rồi được khiêng về. Tình trạng thê thảm đó diễn ra hằng ngày, tâm trạng những tù nhân này thật đáng thương, tương lai sẽ ra sao, không ai có thể tiên đoán được. Những tù nhân này mỗi ngày được phát cho một phần ăn, có lẽ đủ dùng cho một số người, nhưng lại thiếu thốn cho những người khác. Thay vì giúp đỡ cho nhau, đùm bọc lẫn nhau, họ lại tranh dành với nhau từ miếng ăn đến chỗ ở. Làm sao cho no ấm, không cần biết đến ngày mai. Làm sao cho các tù nhân khác nể mình, tôn mình lên làm đàng anh hay người lãnh đạo để được thỏa mãn về vật chất, tự ái tạm thời… Chắc có lẽ họ quen nếp sống như vậy, họ thích những vật chất tạm bợ mà quên đi là nơi ấy không phải chỗ ở vĩnh viễn của mình. Nếu ở trong hoàn cảnh đó, chúng ta chắc phải tìm mọi cách để tiếp xúc với bên ngoài, tìm mọi cách để mình được thả ra, mong có ngày được thoát khỏi cảnh tù tội để được về đoàn tụ vui vẻ với gia đình.
    Có người ví đời sống của chúng ta giống như một giòng sông, bắt đầu bằng những hạt sương, hạt tuyết, giọt mưa rơi trên lá cành. Từ những lượng nước nhỏ nhoi đó, các rạch nước, suối nước được thành hình trên những vùng cao nguyên. Các mạch nước nhỏ này sẽ hợp lại với nhau để tạo nên những thác nước, những khúc sông cuồng bạo nguy hiểm. Sau đó đến một giòng sông trầm lặng nhưng mãnh liệt, giòng sông có khả năng đổi hướng, chuyển đất nơi này bồi đắp chổ kia, biến vũng lầy thành đất phù sa, lấn chiếm cả đại dương và cuối cùng trở về biến mất vào lòng biển bao la, là nơi khởi thủy, là nơi mà hơi nước bắt nguồn để tạo thành các hạt tuyết, giọt mưa và chu kỳ cứ tiếp diễn.
    Mỗi người trong chúng ta có một đời sống, một cá tính riêng. Khi còn nhỏ, chúng ta nhờ ơn cha mẹ dạy dỗ, rút lấy các kinh nghiệm chung quanh, lần lần tạo ra bản tính cá nhân của mình. Như dòng sông, khi còn trẻ, chúng ta có khuynh hướng tìm về những việc có tính cách táo bạo, mãnh liệt, nguy hiểm, tạm thời, lắm lúc thiếu suy nghĩ có thể đưa cuộc sống vào nơi bế tắc. Nhưng đến lúc trưởng thành, sau khi công thành danh toại, nhìn lại khoản thời gian qua, chúng ta tự hỏi mục tiêu và ý nghĩa của cuộc sống chúng ta là gì? Vì thế nhiều người bắt đầu hướng về tôn giáo, lo việc từ thiện và ước ao một quê hương tốt đẹp hơn. Tại sao chúng ta lại không nghĩ đến việc trên khi còn trẻ, hay ngay bây giờ? Một mai nếu có chi bất trắc xảy ra trong cuộc sống, chúng ta sẽ bị mất đi cơ hội độc nhất rất là quý báu này.
    Kinh Thánh có chép: “… nhưng anh em chẳng biết ngày mai sẽ ra thế nào! sự sống của anh em là chi? nó chẳng khác gì hơi nước, hiện ra trong chốc lát rồi lại tan mất” (theo Gia-cơ 4:14). Nếu cô đọng đời sống của chúng ta lại chỉ còn trong một vài ngày hay một vài giờ, chúng ta sẽ thấy cuộc sống ngắn ngủi này cũng tương tự như đời sống của các vi sinh vật đơn bào mà chúng ta đã nhìn thấy qua kính hiển vi “lăng xăng đây đó dường như không có mục tiêu gì!” Những sinh vật đơn bào này không chết hẳn, khi đến “tuổi già nua” thì chúng nó “chết” đi bằng cách chia đôi, thành hai tế bào con, mới và trẻ trung hơn. Trong khi đó thì con người sẽ về một thế giới khác. Bạn có chuẩn bị cho cuộc hành trình này chưa? Hay là bạn cũng giống như những tù nhân trong thời loạn các sứ quân bên nước Nhật ngày xưa, mặc kệ cho số phần đưa đẩy tới đâu cũng được. Như một khách lữ hành, bạn có biết là mình mua vé xe về đâu hay không? Hay bạn sẽ nói với ông tài xế xe đò rằng: “Ông ơi! ông cho tôi được ở trên xe ông càng lâu càng tốt”. Hay là: “Ông cho tôi xuống chỗ nào cũng được, vì tôi không biết mình sẽ đi về đâu, quê hương ấm cúng và gia đình hạnh phúc là những điều quá xa vời mà tôi không bao giờ mơ ước và đạt đến được”.
    Như Einstein và khoa học gia nổi tiếng ở trên, Kinh Thánh có nói đến “Những người… xưng mình là kẻ khách và bộ hành trên đất. Những kẻ nói như thế, tỏ rõ rằng mình đang đi tìm một quê hương. Ví thử họ đã tưởng đến nơi quê hương mà mình từ đó đi ra (nơi chôn nhao cắt rún), thì cũng có ngày trở lại, nhưng họ ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời…” (theo sách Hê-bơ-rơ 11:13-16).
    Ðức Chúa Giê-xu phán rằng “Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở. Nếu không thì ta đã nói cho các con biết rồi. Ta đi để chuẩn bị chỗ ở cho các con. Sau khi ta đi và chuẩn bị chỗ ở cho các con rồi thì ta sẽ trở lại đón các con đi để hễ ta ở đâu thì các con cũng ở đó.” (Giăng 14:3). “Trời kêu ai nấy dạ”, sau tiếng dạ đó thì như thế nào? Có bao giờ bạn mơ ước đến một quê hương trên trời? một chỗ ở trong nhà của người Cha thiên thượng? Làm sao có thể đến nơi Đức Chúa Giê-xu sắm sẵn cho chúng ta như Ngài đã nói? Kinh Thánh chép Đức Chúa Giê-xu là con đường duy nhất để chúng ta có thể đến quê hương tốt đẹp ở trên trời, chỉ có Ngài mới nói rằng “Ta là đường đi, lẽ thật (chân lý) và sự sống, chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Đức Chúa Trời” theo sách Giăng 14:6. Thánh Giăng Báp-tít cũng đã quả quyết là: “Ai tin Ðức Chúa Giê-xu thì được sự sống đời đời, ai không chịu tin Ngài thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng hình phạt của Thượng Đế vẫn ở trên người đó” (theo Phúc Âm Giăng 3:36).
    Mong bạn đặt niềm tin vào Ðức Chúa Giê-xu để lấy một vé xe về nơi mà Ngài đã dành sẵn cho, để được về quê hương tốt đẹp nhất trên trời. Chẳng những Ngài muốn chúng ta được lên thiên đàng sống đời đời với Ngài, mà Ngài còn chỉ cho chúng ta con đường để đến nơi ấy bằng cách hy sinh chính mạng sống của Ngài để cứu chuộc tội lỗi chúng ta, để tạo một nhịp cầu nối liền loài người với Thượng Ðế. Ngài như một người chăn chiên hiền lành không ngại hiểm nguy vượt suối, trèo non để tìm những chiên con lạc mất như chúng ta, chúng ta hãy nghe tiếng Ngài.
    Nếu bạn cảm thấy có sự thúc giục trong lòng, muốn tin nhận Chúa Giê-xu, muốn được sự sống trường cửu mà Ngài hứa sẽ ban cho, xin mời bạn lập lại những lời cầu nguyện sau đây:
    “Kính lạy Ðức Chúa Trời là Ðấng yêu thương nhân loại, Ngài không muốn cho một người nào bị hư mất. Con xin Ngài tha thứ tội lỗi của con, ghi tên con vào sổ sự sống. Xin Ngài ngự vào lòng con, làm chủ cuộc đời của con và thay đổi tấm lòng con để cho con có một đời sống đầy ý nghĩa và được xứng đáng làm một công dân nước Trời. Con xin thành kính cám ơn Chúa và cầu nguyện trong Danh Cứu Chúa Giê-xu, A-men.”
    Nếu muốn tìm hiểu thêm hoặc muốn có các tài liệu khác về lẽ đạo, xin bạn liên lạc với các nhà thờ Tin Lành địa phương của bạn. 
    Tác giả : Bác Sỉ Phạm Quang Trọng

    0 nhận xét:

    About-Privacy Policy-Contact us
    Copyright © 2013 Tìm Kiếm Giá Trị Ban Đầu - Mục Đích Đời Người. Blogger Template by Bloggertheme9
    Proudly Powered by Blogger.
    back to top